|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số: 50/2021/DS-PT Ngày 20/9/2021 V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và TS gắn liền với đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Thị Bé. |
| Các Thẩm phán: | Ông Trương Chí Trung. Ông Vũ Việt Dũng. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Bà Lương Thị Chung - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 20 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 57/2020/TLPT-DS ngày 10 tháng 11 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 21/2020/DSST ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 17/2021/QĐ-PT ngày 28 tháng 5 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2021/QĐ-PT ngày 10 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn T. Sinh năm 1969 và bà Trần Thị L. Sinh năm 1969; cùng địa chỉ: Làng S, xã I, huyện C, tỉnh G. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị L: Ông Trần Văn K. Sinh năm 1994; địa chỉ: Làng S, xã I, huyện C, tỉnh G. Theo văn bản ủy quyền ngày 24/12/2020. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T. Sinh năm 1964; địa chỉ: Số 11 đường P 2, phường H, quận L, thành phố Đ. (Có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Mai Xuân P. Sinh năm 1988; địa chỉ: Số 14-16 đường H, phường H, quận L, thành phố Đ. (Có mặt).
- Người kháng cáo: Ông Trần Văn T và bà Trần Thị L là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn là ông Trần Văn T và bà Trần Thị L trình bày: Ngày 21/01/2019, vợ chồng ông Trần Văn T và bà Trần Thị L có mua một căn nhà cấp 4, hẻm chợ, thuộc thôn Hợp Hòa, xã Iadrang, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai của bà Nguyễn Thị T. Hai bên đã thống nhất theo bìa đỏ là 168m2, với giá là 550.000.000 đồng, đặt trước 500.000.000 đồng còn 50.000.000 đồng sau mười ngày có bìa đỏ chính chủ là giao đất. Việc mua bán được thể hiện qua giấy viết tay và 03 bộ Hợp đồng mua bán. Sau khi chuyển tiền cho con trai bà T là Mai Xuân P với số tiền 480.000.000 đồng tại Ngân hàng Vietinbank Đà Nẵng và bà T nhận trực tiếp 20.000.000 đồng từ vợ chồng ông Trần Văn T và bà Trần Thị L thì bà T viết giấy nhận tiền hẹn ngày giao nhà. Sau đó bà T cầm hết giấy tờ lên tổ một cửa để làm việc sang bìa. Tuy nhiên, sáu tháng sau, bà T mới làm chuyển tên từ bìa đỏ sang bìa hồng vẫn mang tên Nguyễn Thị T. Lúc này bìa hồng chỉ là 164m2 nên vợ chồng đã liên lạc cho bà T để giải quyết nội bộ nhưng bà T không giải quyết buộc vợ chồng phải ký hồ sơ thứ hai với diện tích 164m2 nhưng vẫn chưa nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong khi đó, vợ chồng phải vay lãi ngoài 2%/tháng đối với số tiền 500.000.000 đồng trong thời gian chờ nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền Ngân hàng lấp vào chỗ thiếu tính đến ngày khởi kiện là 116.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, ông bà đề nghị Tòa án tuyên bố Hợp đồng mua bán ban đầu ngày 21/01/2019 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/06/2019 giữa bên chuyển nhượng bà Nguyễn Thị T và bên nhận chuyển nhượng ông Trần Văn T, bà Trần Thị L vô hiệu. Yêu cầu bà Nguyễn Thị T phải trả lại cho vợ chồng ông bà số tiền 500.000.000 đồng đã nhận, đồng thời bà Nguyễn Thị T phải bồi thường thiệt hại số tiền là 230.789.000 đồng gồm các khoản: tiền lãi của số tiền 500.000.000 đồng, (lãi suất 2% tháng tính từ tháng 01/2019 đến ngày 30/09/2020) là 202.010.000 đồng; tiền sửa chữa ngôi nhà đã mua là: 1.565.000 đồng; tiền tạm ứng án phí: 14.620.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần, tiền chi phí đi lại tính đến ngày 30/09/2020: 12.594.000 đồng. Tổng cộng số tiền ông bà yêu cầu Tòa án buộc bà T phải trả cho vợ chồng là: 730.789.000 đồng.
Bị đơn là bà Nguyễn Thị T trình bày: Do có mối quan hệ quen biết nên ngày 21/01/2019, bà có bán cho vợ chồng ông Trần Văn T và bà Trần Thị L một căn nhà cấp 4, thửa đất số 69, tờ bản đồ số 86, diện tích 168m2 tại thôn Hợp Hòa, xã Iadrang, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai với giá 550.000.000 đồng. Lúc này là bìa đỏ. Hai bên đã làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gửi lên Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Chư Prông, khi trình ký thì cán bộ địa chính hướng dẫn cấp đổi bìa hồng rồi mới chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T, bà L. Lúc này ông T và bà L không đồng ý cấp đổi và chuyển nhượng bìa hồng nhưng đến tháng 06/2019 thì hai bên thống nhất làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là bìa hồng. Ngày 20/06/2019, sau khi làm thủ tục cấp đổi xong thì hai bên đã ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo đó, bà đã chuyển nhượng cho ông T, bà L thửa đất số 69, tờ bản đồ số 86, diện tích 164m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ741898 cấp ngày 10/06/2019.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Mai Xuân P trình bày: Ông là con ruột của bà Nguyễn Thị T. Vào ngày 21/01/2019, mẹ ông có bán cho ông Trần Văn T và bà Trần Thị L một căn nhà cấp 4 tại thôn Hợp Hòa, xã Iadrang, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai với giá 550.000.000 đồng. Cũng trong ngày 21/01/2019, ông Trần Văn T đã chuyển khoản số tiền 480.000.000 đồng cho ông trực tiếp nhận thông qua ủy nhiệm chi của Ngân hàng Công thương Việt Nam. Nay ông T, bà L khởi kiện thì ông không có ý kiến, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Trần Văn T, bà Trần Thị L và người đại diện theo ủy quyền của bà L là ông Trần Văn K đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với họ theo quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2] Xét kháng cáo của ông Trần Văn T, bà Trần Thị L thì thấy: Ngày 21/01/2019, ông Trần Văn T, bà Trần Thị L và bà Nguyễn Thị T có thỏa thuận mua bán nhà và đất thuộc thửa đất số 69; tờ bản đồ số 86; diện tích 168m2 tại địa chỉ: thôn Hợp Hòa, xã Iadrang, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai với giá thỏa thuận là 550.000.000 đồng. Ông T, bà L đã giao trước cho bà T 500.000.000 đồng. Việc mua bán được thể hiện qua giấy nhận tiền bán nhà ký ngày 21/01/2019. Đến ngày 23/01/2019, bà T bàn giao nhà cho vợ chồng ông T, bà L.
[3] Ngày 10/06/2019, bà T làm xong thủ tục cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CQ741898 nên ngày 20/06/2019, hai bên đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 69, tờ bản đồ số 86, diện tích 164m2 tại xã Iadrang, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.
[4] Đối với yêu cầu của ông Trần Văn T, HĐXX xét thấy: Hợp đồng ngày 21/01/2019 không còn tồn tại vì đã được thay thế và phủ quyết bởi Hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất ngày 20/6/2019. Hợp đồng ngày 20/6/2019 mới làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Hiện nay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được chỉnh lý biến động đứng tên vợ chồng ông T, bà L nên xác định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/6/2019 có hiệu lực pháp luật.
[5] Từ những nhận định trên, không chấp nhận kháng cáo của ông T, bà L và không có căn cứ buộc bà T phải trả cho ông T, bà L số tiền 500.000.000 đồng.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3, Điều 296, Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 117, 119; 129, 501, 502, 503 của Bộ luật dân sự; Điều 12, 122 Luật Nhà ở năm 2014, Điều 188 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn T, bà Trần Thị L.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 21/2020/DSST ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- 2.1. Đình chỉ xét xử yêu cầu của ông Trần Văn T, bà Trần Thị L về việc buộc bà Nguyễn Thị T bồi thường thiệt hại liên quan đến số tiền 230.789.000 đồng.
- 2.2. Đình chỉ xét xử yêu cầu của bà Trần Thị L về việc tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/6/2019 vô hiệu.
- 2.3. Tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất ngày 20/6/2019 có hiệu lực pháp luật.
- 2.4. Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn T, bà Trần Thị L đối với bà Trần Thị T về việc tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất ngày 21/01/2019 vô hiệu và yêu cầu buộc bà Trần Thị T phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Trần Văn T số tiền 500.000.000 đồng.
- Án phí DSST: Ông Trần Văn T, bà Trần Thị L phải chịu: 10.909.750 đồng.
- Án phí DSPT: Ông Trần Văn T, bà Trần Thị L phải chịu: 300.000 đồng.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng; - Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu; - Chi cục THA dân sự quận Liên Chiểu; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Bé |
Bản án số 50/2021/DS-PT ngày 20/09/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
- Số bản án: 50/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phúc thẩm vụ án dân sự tiến, loan-thúy
