|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA THÀNH PHỐ HUẾ Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST Ngày: 04/4/2025 “V/v Xác định cha cho con" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quang Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trực và ông Nguyễn Văn Lân.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trương Bảo Long - Thư ký viên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa tham gia phiên tòa:
Ông Đinh Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 96/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 về việc “Xác định cha cho con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 09/11/1979; căn cước công dân số: [...], cấp ngày 05/7/2023, tại Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hộ; nơi thường trú: Thôn T, xã P, huyện P, thành phố H; địa chỉ liên hệ: Số E ấp T, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt - có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
- * Bị đơn: Anh Trần Phi R, sinh ngày 20/12/1982; Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 27/8/2022, tại Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi thường trú: TDP T, phường T, quận T, thành phố H; địa chỉ liên hệ: Số E ấp T, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt - có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Huỳnh V, sinh năm 1975; căn cước công dân số: [...]; địa chỉ: F ấp A, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt - có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 02 năm 2025 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Chị và anh Huỳnh Viết kết H1 vào năm 1999. Quá trình chung sống giữa anh, chị xảy ra nhiều mâu thuẫn nên dẫn đến sống ly thân từ năm 2018. Đến năm 2022 anh, chị ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 468/2022/QÐST-HNGĐ ngày 04/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh. Trong thời gian sống ly thân chị H có phát sinh và quan hệ tình cảm với anh Trần Phi R, sau đó chị H mang thai đến ngày 30/12/2019 thì sinh được 01 bé trai dự kiến đặt tên là Trần Hữu Phi B theo giấy chứng sinh (cấp lại) số CC/12/19/440, quyền số 158 ngày 27/9/2024 của bệnh viện Đ.
Nay chị Nguyễn Thị Thu H khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định anh Trần Phi R là cha đẻ của bé trai dự kiến đặt tên Trần Hữu Phi B.
- Tại bản tự khai ngày 11/3/2025, bị đơn là anh Trần Phi R trình bày: Vào năm 2019, anh có quan hệ tình cảm với chị Nguyễn Thị Thu H. Tuy nhiên, trước đó vào năm 1999 chị Nguyễn Thị Thu H đã kết hôn với anh Huỳnh Viết . Quá trình chung sống giữa anh V, chị H nảy sinh mâu thuẫn nên sống ly thân từ năm 2018. Đến năm 2022, anh V và chị H được Tòa án giải quyết cho ly hôn. Trong thời gian quan hệ tình cảm với anh thì chị H đã mang thai và sinh được 01 người con chung vào ngày 30/12/2019 dự kiến đặt tên là Trần Hữu Phi B. Nay chị Nguyễn Thị Thu H khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định anh là cha đẻ của cháu Trần Hữu Phi B thì anh đồng ý và đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.
Tại bản tự khai khai ngày 13/3/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Huỳnh V trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Thu H kết hôn vào năm 1999. Quá trình chung sống giữa anh, chị xảy ra nhiều mâu thuẫn nên sống ly thân từ năm 2018. Đến năm 2022 anh, chị ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 468/2022/QÐST-HNGĐ ngày 04/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh. Trong thời kỳ hôn nhân chị H có sinh một người con nhưng không phải là con chung của anh với chị H. Nay chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định anh Trần Phi R là cha đẻ của cháu Trần Hữu Phi B thì anh không có ý kiến gì và đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định pháp luật để giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định pháp luật nhưng các đương sự đều vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý, Thẩm phán thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 88, Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H: Xác định anh Trần Phi R, sinh ngày 20/12/1982; căn cước công dân số: [...], cấp ngày 27/8/2022, tại Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội là cha đẻ của bé trai có tên giả định là Trần Hữu Phi B, sinh ngày 30/12/2019 theo giấy chứng sinh (cấp lại) số CC/12/19/440, quyển số 158 ngày 27/9/2024 của bệnh viện Đ. Chị Nguyễn Thị Thu H có nghĩa vụ liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để đăng ký khai sinh, cải chính hộ tịch theo quy định. Đương sự không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Toà án nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Trần Phi R là tranh chấp xác định cha cho con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi thường trú tại phường T, quận T, thành phố H nên Toà án nhân dân quận Thuận Hóa thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu H; bị đơn là anh Trần Phi R và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Huỳnh V đều có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng: Anh Huỳnh V và chị Nguyễn Thị Thu H xác lập mối quan hệ hôn nhân kể từ năm 1999. Căn cứ Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 468/2022/QÐST-HNGĐ ngày 04/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh thể hiện quan hệ hôn nhân giữa anh Huỳnh V và chị Nguyễn Thị Thu H được chấm dứt kể từ ngày 04/5/2022. Quá trình chung sống, giữa anh V, chị H xảy ra nhiều mâu thuẫn nên anh, chị đã sống ly thân từ năm 2018. Trong thời gian sống ly thân với anh V, chị H có quan hệ tình cảm với anh Trần Phi R, chị mang thai và sinh một bé trai vào ngày 30/12/2019 có tên giả định là Trần Hữu Phi B theo giấy chứng sinh (cấp lại) số CC/12/19/440, quyển số 158 ngày 27/9/2024 của Bệnh viện Đ.
Tại khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng”. Như vậy, bé trai có tên giả định Trần Hữu Phi B theo quy định của pháp luật là con chung của anh V, chị H. Tuy nhiên, tại phiếu kết quả xét nghiệm ADN ngày 09/11/2023 của Viện sinh học phân tử LOCI kết luận “người có mẫu ADN ký hiệu TRẦN PHI RÔN và người có mẫu ADN ký hiệu TRẦN HỮU P BẢO có quan hệ huyết thống cha - con, với tần suất 99.999999964018%”. Anh Trần Phi R đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị H; anh Huỳnh V không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị H. Xét quá trình giải quyết vụ án các đương sự không đưa ra các chứng cứ phản bác với yêu cầu của nguyên đơn. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.
Bị đơn là anh Trần Phi R công nhận bé trai có tên giả định Trần Hữu Phi B do chị Nguyễn Thị Thu H sinh vào ngày 30/12/2019 là con chung của anh và chị H. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Huỳnh V xác định bé trai có tên giả định Trần Hữu Phi B, sinh ngày 30/12/2019 không phải là con chung của anh với chị H.
Từ những phân tích nêu trên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn xác định anh Trần Phi R, sinh ngày 20/12/1982; căn cước công dân số: [...], cấp ngày 27/8/2022, tại Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội là cha đẻ của bé trai có tên giả định Trần Hữu Phi B, sinh ngày 30/12/2019 theo giấy chứng sinh (cấp lại) số CC/12/19/440, quyển số 158 ngày 27/9/2024 của Bệnh viện Đ theo ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở.
[4] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Đương sự không phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 88 và Điều 101 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H
Xác định anh Trần Phi R, sinh ngày 20/12/1982; căn cước công dân số: [...], cấp ngày 27/8/2022, tại Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội là cha đẻ của bé trai có tên giả định Trần Hữu Phi B, sinh ngày 30/12/2019 theo giấy chứng sinh (cấp lại) số CC/12/19/440, quyển số 158 ngày 27/9/2024 của Bệnh viện Đ.
Chị Nguyễn Thị Thu H có nghĩa vụ liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để đăng ký khai sinh, cải chính hộ tịch theo quy định. - Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Đương sự không phải chịu án phí theo quy định.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Quang Bình |
Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ về xác định cha cho con
- Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xác định cha cho con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xác nhận cha cho con
