Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẢO LẠC

TỈNH CAO BẰNG

Bản án số: 05/2025/HS-ST

Ngày: 10-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Lầu

Ông Nông Văn Nghiệp

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Ông Bế Sư Chưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Chu Văn K; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 01/01/1994 tại Đ - B - Cao Bằng; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Xóm C, xã Đ, huyện B, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Lô Lô; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Chu Văn B (sinh năm 1968) và bà Tô Thị K1 (sinh năm 1968); Vợ: Nông Thị Đ; Con: Có hai con, sinh năm 2019 và năm 2021; Anh chị em ruột: Gia đình bị cáo có ba anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 34/QĐ-XPHC ngày 24/3/2023 của Công an huyện B, tỉnh Cao Bằng xử phạt Chu Văn K hình thức phạt tiền, mức phạt: 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B (nay là P trại tạm giam khu vực huyện B) từ ngày 26/11/2024 đến nay. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Chu Văn K: Bà Linh Thị A - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C. Có mặt.

2

Bị hại: Chị Lày Thị L; Sinh năm: 1997; Địa chỉ: Xóm N, xã B, huyện B, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 25/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Cao Bằng nhận được tin báo của chị Lày Thị L (sinh năm 1997; Trú tại: Xóm N, xã B, huyện B, tỉnh Cao Bằng) với nội dung: Khoảng 09 giờ sáng ngày 24/11/2024, khi chị L không ở nhà, có một người đàn ông đột nhập vào nhà lấy trộm số tiền khoảng hơn 4.000.000 đồng chị cất giữ ở ngăn kéo bàn bán hàng trong nhà.

Sau khi tiếp nhận đơn, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B phối hợp với Công an xã B kiểm tra hiện trường xảy ra vụ việc, trích xuất camera của nhà chị L, tiến hành xác minh, rà soát và đã triệu tập Chu Văn K (sinh năm 1994; Trú tại: Xóm C, xã Đ, huyện B, tỉnh Cao Bằng) để đấu tranh, khai thác. Tại cơ quan điều tra, Chu Văn K thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình tại nhà chị Lày Thị L. Quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Chu Văn K tại xóm C, xã Đ, huyện B, tỉnh Cao Bằng, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã phát hiện và thu giữ một chiếc áo khoác bò màu xanh, có mũ trùm đầu liền với áo là chiếc áo mà Chu Văn K đã mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 08 giờ sáng ngày 24/11/2024, Chu Văn K đi nhờ xe của một người đàn ông đến địa phận xóm N, xã B, huyện B, tỉnh Cao Bằng thì xuống xe. Kinh đi bộ quanh khu vực xóm N thấy quán bán hàng tạp hóa của chị Lày Thị L khóa cửa ngoài, nghĩ không có ai ở nhà nên nảy sinh ý định đột nhập vào nhà trộm cắp tài sản. Sau khi đi xung quanh nhà kiểm tra phát hiện có sơ hở, K đi vòng xuống dưới đường cầu treo và men lên theo bên trái của nhà, xuống dưới sàn dùng sức đẩy tấm ván sàn nhà lên. Sau khi đẩy được 01 (một) tấm ván đủ để người chui qua, K vào được nhà rồi đi thẳng vào gian bán hàng. Do trước đó được mua hàng tạp hóa nhiều lần ở quán của chị L nên K biết được địa điểm cất giữ tiền ở trong ngăn kéo trên cùng của bàn ở gian bán hàng. Kinh mở ngăn kéo lấy một tập tiền mệnh giá 100.000 đồng được buộc bằng dây nịt và một số tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, 20.000 đồng và 10.000 đồng. Lấy tiền xong Kinh quay lại đường cũ, chui ra ngoài và đậy tấm ván lại, lên đường đi bộ theo đường Quốc lộ 34 hướng về thị trấn B. Trên đường đi thấy có người đi xe máy Kinh vẫy lại xin đi nhờ. Ngồi sau xe máy, K mang số tiền vừa trộm cắp

3

được ra đếm thấy có 27 tờ mệnh giá 100.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 50.000 đồng, còn lại các tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng và 10.000 đồng không nhớ cụ thể số tờ nhưng K đếm được số tiền là 220.000 đồng. Tổng số tiền K lấy trộm được là 2.970.000 đồng. Khi đến thị trấn B, K vào đình chợ T mua một chiếc mũ giá 60.000 đồng, một đôi giày giá 280.000 đồng, một quần bò giá 250.000 đồng, một áo len giá 200.000 đồng, 01 áo khoác da giá 450.000 đồng, đi nhuộm tóc ở quán (không rõ tên quán) thuộc tổ dân phố C, thị trấn B hết 300.000 đồng. Sau đó K đi ăn uống và mua thức ăn về nhà nhưng không nhớ cụ thể số tiền. Về đến nhà K mang tiền ra đếm lại thấy còn 700.000 đồng, số tiền này K tiếp tục tiêu sài cá nhân hết.

Hành vi của Chu Văn K đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKSBL ngày 07 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng truy tố Chu Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Chu Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Nhất trí với thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại, không đề nghị xem xét trong vụ án.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc áo khoác bò màu xanh, có mũ chùm đầu liền với áo, áo cũ đã qua sử dụng.

Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Chu Văn K thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

4

Tại quá trình điều tra, bị hại chị Lày Thị L khai số tiền bị trộm cắp là hơn 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Tại phiên tòa, chị L trình bày: Sáng ngày 24/11/2024 chị khóa cửa nhà đi chợ, khi quay về nhà chị phát hiện bị mất trộm số tiền hơn 4.000.000 đồng để trong ngăn kéo bàn tại gian bán hàng trong nhà. Chị xác nhận bị cáo K là người đàn ông đã đột nhập vào nhà chị trộm cắp tiền theo như camera của nhà chị ghi lại. Số tiền trên là của riêng chị dùng để làm vốn xoay vòng bán hàng, do chị trực tiếp quản lý và chị không có căn cứ chứng minh chính xác số tiền bị mất. Quá trình chuẩn bị xét xử gia đình bị cáo đã gặp và trả chị số tiền 3.000.000 đồng, có lập biên bản thỏa thuận gửi cho Tòa án. Tại phiên tòa hôm nay, chị không yêu cầu bị cáo bồi thường khoản nào khác và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Chu Văn K trình bày: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điểm, khoản đã truy tố bị cáo. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi cân nhắc hình phạt đối với bị cáo như sau: Bị cáo sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, trình độ văn hóa thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế, khi thực hiện hành vi bị cáo không nhận thức được hậu quả mà mình gây ra. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi bị tạm giam, được tuyên truyền pháp luật, bị cáo đã nhận thức được hành vi sai trái, bị cáo đã nhờ gia đình chủ động bồi thường thiệt hại cho bị hại trước khi diễn ra phiên tòa, bị hại xác nhận đã thỏa thuận xong và đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo K quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trợ giúp viên pháp đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo với mức thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Hai bên đã thỏa thuận, bị hại không yêu cầu nên ghi nhận sự thỏa thuận giữa các bên. Về vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Chu Văn K và những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội và tình tiết định khung hình phạt của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Chu Văn K thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận kết luận điều tra và bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng với hành vi vi phạm pháp luật của mình. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 24/11/2024 tại quán bán hàng của chị Lày Thị L (địa chỉ: Xóm N, xã B, huyện B, tỉnh Cao Bằng), bị cáo Chu Văn K đã lợi dụng nhà chị L không có ai ở nhà, lén lút đột nhập vào nhà lấy trộm số tiền 2.970.000 đồng (Hai triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng). Số tiền trên bị cáo dùng để tiêu sài cá nhân. Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Chu Văn K có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích chiếm đoạt tài sản để tiêu sài cá nhân, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và đủ yếu tố cấu thành tội phạm Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: .....”

6

Do vậy Cáo trạng số 07/CT-VKSNB ngày 07 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc truy tố bị cáo K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã liên hệ gia đình chủ động bồi thường thiệt hại cho bị hại, đã thỏa thuận xong và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo K có nhân thân xấu, bị cáo sinh ra lớn lên ở nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhưng ham chơi, lười lao động, thiếu bản lĩnh dẫn đến nghiện ma túy. Năm 2023 bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đã được xoá tiền sự nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân. Trong hồ sơ vụ án thể hiện tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể ngày 26/11/2024 do Công an huyện B tiến hành xét nghiệm đối với bị cáo K, kết quả bị cáo dương tính với chất ma tuý trong cơ thể.

[4] Về quyết định hình phạt:

Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội, đảm bảo tính giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc về mức hình phạt đối với bị cáo Chu Văn K từ 06 đến 09 tháng tù là có căn cứ và phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Chu Văn K không có nghề nghiệp, không có thu nhập cũng như tài sản riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình thức phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, bị hại chị Lày Thị L xác nhận đã thỏa thuận xong với gia đình bị cáo về việc bồi thường khoản tiền bị cáo K trộm cắp của chị, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

7

[6] Về xử lý vật chứng của vụ án: Căn cứ các Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đối với 01 (một) chiếc áo khoác bò màu xanh, có mũ trùm đầu liền với áo, áo cũ đã qua sử dụng xác định là chiếc áo bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, là tài sản riêng của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu được trả lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn nộp tiền án phí. Do đó miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Chu Văn K.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chu Văn K phạm tội "Trộm cắp tài sản".

2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173, các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Chu Văn K 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/11/2024.

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận xong, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết trong vụ án.

4. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc áo khoác bò màu xanh, có mũ trùm đầu liền với áo, áo cũ đã qua sử dụng.

Vật chứng trên hiện đang được lưu kho và bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản số 17 ngày 11 tháng 02 năm 2025 giữa cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lạc.

5. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo Chu Văn K được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

8

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Án xử công khai sơ thẩm, báo quyền kháng cáo bản án cho bị cáo, bị hại trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Phân trại tạm giam KV huyện Bảo Lạc;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người bào chữa;
  • - UBND xã Đ;
  • - Lưu HS;
  • - Lưu AV.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Vũ Thị Hồng Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC TỈNH CAO BẰNG về trộm cắp tài sản (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 05/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố Bc Chu Văn K phạm tội Trộm cắp TS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger