Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TU MƠ RÔNG

TỈNH KON TUM

Bản án số: 05/2024/HSST

Ngày: 12/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU MƠ RÔNG- TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Bình Thanh;
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    • + Bà Phan Thị Kim Chi, Hiệu phó Trường tiểu học xã Đăk Hà, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum;
    • + Ông A Trung, Bí thư Huyện Đoàn Tu Mơ Rông.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Chí Dũng- Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum;
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông tham gia phiên toà: Ông Trần Ngọc Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 12/11/2024 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2024/TLST-HS ngày 03/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HS, ngày 29/10/2024 đối với bị cáo:

Y Đ (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 29/06/2007 tại Kon Tum. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Xơ Đăng; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông A P, sinh năm 1984 và bà Y C, sinh năm 1980; Đang chung sống như vợ chồng với anh A H, sinh năm 2005 (chưa đăng ký kết hôn); Chưa có con chung. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Y C, sinh năm 1980 và ông A P, sinh năm 1984. Ông A P ủy quyền cho bà Y C tham gia tố tụng. Có mặt tại phiên tòa.

Trú tại: Thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn Đ1- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K; Có mặt.

Địa chỉ: Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh K.

- Người bị hại: Chị Phạm Thị Thu H1, sinh năm 1990

Trú tại: Thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum. Có mặt tại phiên tòa.

- Đại diện chính quyền địa phương: Bà Y M, Thôn trưởng

Trú tại: Thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 14/7/2024, Y Điều đi đến quán T tại thôn K, xã Đ, huyện T do chị Phạm Thị Thu H1 làm chủ để mua đồ dùng cá nhân. Lúc này, chị H1 đi qua kho hàng bên cạnh quán để lấy hàng. Y Điều quan sát xung quanh, thấy không có người trông coi nên Y Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để tiêu xài cá nhân. Lúc này, Y Đ lén lút đi tới tủ để tiền, kéo ngăn tủ ra (tủ không có khóa) rồi dùng tay lấy tiền từ trong hộc tủ, rồi cho vào bên trong ống tay áo khoác của mình đi ra ngoài. Sau đó, Y Điều trả tiền mua đồ dùng và đi về nhà cùng số tiền trộm cắp được. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, chị H1 mở tủ để lấy tiền thối lại cho khách hàng thì mới phát hiện bị trộm mất tiền, nên trình báo Công an xã. Đến ngày 15/7/2024, Công an xã Đ, huyện T triệu tập Y Đ lên trụ sở làm việc và Y Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm lấy trộm tiền của chị H1 và tự nguyện giao nộp toàn bộ số tiền 12.820.000 đồng đã lấy trộm.

Bản cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 02/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo Y Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Y Đ khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông sau phần xét hỏi và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã nêu, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Y Đ phạm tội Trộm cắp tài sản; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36, Điều 90, Điều 91, Điều 100 của Bộ luật hình sự; Tuyên phạt bị cáo Y Đ từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án hình sự đối với bị cáo; Bị cáo Y Đ chưa thành niên nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

2

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc áo khoác có mũ, làm bằng vải, màu xanh hiện không còn giá trị sử dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã hoàn trả số tiền 12.820.000 đồng và bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập.

Về án phí: Đề nghị miễn án phí cho bị cáo

Người bào chữa cho bị cáo, ông Nguyễn Văn Đ1 thống nhất với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Y Đ. Đề nghị cân nhắc thêm tình tiết bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, khi phạm tội đang có thai, tâm sinh lý không ổn định; có nơi cư trú rõ ràng để tuyên mức án nhẹ nhất.

Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bị hại không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền, thủ tục tố tụng: Bị cáo Y Đ đã có hành vi trộm cắp tài sản tại thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết, xét xử của Tòa án nhân dân huyện Tu Mơ Rông theo quy định tại Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự.

Cơ quan điều tra Công an huyện T, điều tra viên; Viện kiểm sát và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ là hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người đại diện nơi bị cáo sinh sống. Tuy nhiên, người đại diện nơi bị cáo sinh sống vắng mặt cũng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ khoản 2 Điều 292 BLTTHS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Quá trình xét hỏi công khai tại phiên tòa, bị cáo Y Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời

3

khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 14/07/2024, Y Đ lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản, Y Đ đã lén lút đi tới tủ để tiền, kéo ngăn tủ rồi dùng tay lấy trộm của chị Phạm Thị Thu H1 số tiền 12.820.000đ (Mười hai triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng). Bị cáo trộm cắp tài sản khi đã 17 năm 16 ngày tuổi, hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ với lỗi cố ý trực tiếp nên đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội để răn đe riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khi phạm tội bị cáo mới được 17 năm 16 ngày tuổi, đang mang thai, là người đồng bào dân tộc thiểu số sống tại vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, người bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, chấp nhận luận tội của đại diện Viện kiểm sát cũng như đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, áp dụng điểm i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36, Điều Điều 90, Điều 91, Điều 100 của Bộ luật hình sự để tuyên phạt bị cáo mức án cải tạo không giam giữ nhằm mục đích giáo dục, giúp bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T nhận được quyết định thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch 01/2023/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Phạm Thị Thu H1 đã nhận lại số tiền 12.820.000 đồng; Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem về trách nhiệm dân sự nữa.

[6] Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc áo khoác có mũ, làm bằng vải, màu xanh. Xét thấy, chiếc áo khoác đã bị hỏng, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

[7] Về án phí: Tại phiên tòa, bị cáo Y Đ có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Xét thấy, bị cáo Y Đ là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy, cần áp dụng điểm đ khoản 1 điều

4

12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án để miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36, Điều 90, Điều 91, Điều 100 của Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Y Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Y Đ 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án hình sự đối với bị cáo. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Giao bị cáo cho UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 100 Luật thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.

[2] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc áo khoác có mũ, làm bằng vải, màu xanh.

(Vật chứng có đặc điểm giống như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/10/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum).

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Y Đ được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/11/2024).

5

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Người bào chữa;
  • - Người đại diện của bị cáo;
  • - TAND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND huyện Tu Mơ Rông;
  • - Công an huyện Tu Mơ Rông;
  • - CCTHADS huyện Tu Mơ Rông;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trịnh Thị Bình Thanh

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/HSST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU MƠ RÔNG, TỈNH KON TUM về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 05/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU MƠ RÔNG, TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y Điều - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger