TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10-01-2024 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ngọc Trân
Bà Nguyễn Hồng Xứng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang: Ông Cao Phương Bình - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2023 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 61/2023/QÐST-HNGĐ ngày 25 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1988
Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện G, Kiên Giang.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Trần Thụy Q, Văn phòng L - Đoàn Luật sư K.
-Bị đơn: Ông Park Hyeon I, sinh năm 1969
Địa chỉ: #51 Yongdumaeul-gil, B-gu, G-si
(Các đương sự vắng mặt, Luật sư Q có tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Nguyên đơn bà Phạm Thị N trình bày:
Năm 2007 bà quen biết ông Park H II qua mai mối, qua tìm hiểu hai bên có tình cảm với nhau và tiến đến hôn nhân. Bà và ông Park H II đăng ký kết hôn tại Hàn Quốc và đăng ký ghi chú kết hôn tại Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang số 153 ngày 22/3/2007.
Sau khi kết hôn, tháng 5/2007 ông bà chung sống với nhau tại Hàn Quốc. Thời gian chung sống khoảng 01 tháng nhưng thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng ngôn ngữ, văn hóa, ông Park H II có hành vi bạo lực với bà nên bà đã ra ngoài ở riêng không mang theo giấy tờ tùy thân. Năm 2019 bà bị trục xuất về Việt Nam vì không có giấy tờ tùy thân, từ đó đến nay bà và ông Park H II không còn liên lạc với nhau. Hiện tại bà không còn tình cảm vợ chồng với ông Park H II, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Park H II.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn ông Park H II : Tòa án đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ cho ông Park H II về yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị N và thời gian tố tụng giải quyết yêu cầu ly hôn. Tại công văn số 3116/BTP-PLQT ngày 30/11/2023 của Bộ Tư pháp xác định “Cơ quan có thẩm quyền của Đại Hàn Dân Quốc đã thực hiên ủy thác nêu trên vào ngày 13/9/2023 bằng phương thức tống đạt hồ sơ trực tiếp cho đương sự” nhưng ông Park H II không có ý kiến và vắng mặt tham gia tố tụng tại Tòa không lý do.
Tại phiên tòa, Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, Luật sư Nguyễn Trần Thụy Q đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Bà N với ông Park H II. Do hai bên không có nhiều thời gian chung sống, có mâu thuẫn trong thời gian sống chung, hai bên không còn quan tâm, liên lạc với nhau từ 2019 đến nay, mục đích hôn nhân của ông P và bà N không đạt được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho ly hôn giữa bà Phạm Thị N với bị đơn ông Park H II.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, đề nghị của Người bảo vệ nguyên đơn, quan điểm đại diện Viện Kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Phạm Thị N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Park H II vắng mặt tại phiên tòa theo thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ. Căn cứ theo quy định tại các điều Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Phạm Thị N:
Xét thấy bà Phạm Thị N và ông Park H II quen biết qua mai mối, và tự nguyện kết hôn, có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Hàn Quốc và đăng ký ghi chú kết hôn tại Việt Nam theo quy định pháp luật. Do đó quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị N và ông Park H II là hôn nhân hợp pháp.
Nguyên nhân bà N xin ly hôn là do không còn tình cảm vợ chồng với ông Park H II, hiện bà N sống tại Việt Nam và không có tin tức liên lạc với nhau từ năm 2019 đến nay. Đối với bị đơn ông Park H II hiện nay sống tại Hàn Quốc, trực tiếp nhận văn bản tố tụng theo thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ của Tòa án, nhưng không có ý kiến theo yêu cầu ly hôn của bà N.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị N và ông Park H II đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị N với ông Park H II.
[3] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà N xác định không có không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Án phí: Bà Phạm Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà N đã nộp theo biên lai thu số 0005716 ngày 06/02/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
[5] Lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài: Bà Phạm Thị N phải chịu chi phí ủy thác tư pháp 200.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 200.000 đồng bà N đã nộp theo Biên lai thu số 0016471 ngày 20/02/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, Điều 153, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 477 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 14, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị N.
- Về quan hệ hôn nhân: bà Phạm Thị N được ly hôn ông Park H II
- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Án phí: Bà Phạm Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà N đã nộp theo biên lai thu số 0005716 ngày 06/02/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
- Lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài: Bà Phạm Thị N phải chịu chi phí ủy thác tư pháp 200.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 200.000 đồng bà N đã nộp theo Biên lai thu số 0016471 ngày 20/02/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
- Quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Ông Park H II có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Hường |
Bản án số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 10/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 05/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Nương - II
