Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09-01-2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Huỳnh Sinh và ông Trần Hoàng Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Mai Lý Lệ H - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 679/2023/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04-12-2023, Quyết định hoãn phiên toà số 82/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22-12-2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1976 (có mặt).

Nơi cư trú: Số B đường B, khu phố F, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm: 1970 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Khu phố F, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:

Bà và ông Nguyễn Thanh H1 chung sống với nhau có cưới hỏi năm 2008 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P. Sau khi cưới, vợ chồng sống tại tại khu phố F, phường P, thành phố P - T.

Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc do ông H1 cờ bạc, gây nợ nần, không quan tâm chăm sóc đến gia đình. Bà đã khuyên can nhiều lần nhưng ông H1 vẫn không thay đổi nên vợ chồng mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm chăm sóc gì nhau.

Nay bà đã không còn tình cảm nữa nên yêu cầu Tòa án cho ly hôn ông H1.

Về con chung: có 01 con tên Nguyễn Minh T, sinh ngày 25-02-2009. Nếu được ly hôn, bà xin nuôi con chung và không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con.

Hiện bà đang làm thuê, thu nhập trung bình mỗi tháng 8.000.000đồng nên đủ khả năng nuôi con và ông H1 đang nợ nần nên cũng không có khả năng để cấp dưỡng cho cháu T.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Nguyễn Thanh H1, quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Thanh H1 nhưng ông Nguyễn Thanh H1 vẫn vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:

Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt bị đơn.

Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với bị đơn ông Nguyễn Thanh H1. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn hiện đang cư trú tại phường P, thành phố P - T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Xử lý về việc vắng mặt của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm mở phiên tòa sơ thẩm Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Nguyễn Thanh H1 đều vắng mặt. Điều này chứng tỏ ông Nguyễn Thanh H1 đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Thanh H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 63 ngày 17-7-2008, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

[2.2] Về quan hệ hôn nhân: Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.

Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Thanh H1 quá trình chung sống có mâu thuẫn do ông H1 cờ bạc. Từ tháng 9 năm 2022 đến nay bà M và ông H1 đã không còn chung sống với nhau, mỗi người sống một nơi. Tình trạng mâu thuẫn của bà M và ông H1 phù hợp với Biên bản xác minh của Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P - T.

Ông H1 biết việc bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng không tham gia tố tụng thể hiện ông H1 không có thiện chí và không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xét thấy hôn nhân giữa bà M và ông H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M.

[2.3] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Minh T, sinh ngày 25-02-2009. Bà M có yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng: Cháu Thư từ trước đến nay đều sống với bà M và có nguyện vọng được sống với mẹ, bà M có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, có khả năng để nuôi con nên Hội đồng xét xử giao cháu cho bà Nguyễn Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Thanh H1 không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con do bà M không có yêu cầu.

[3] Tài sản chung và nợ chung: Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố P - T là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí: Bà M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 1 Điêu 28; khoản 1 Điêu 35; khoản 1 Điêu 39; khoản 4 Điêu 147; Điêu 227; Điêu 228; Điêu 271 và Điêu 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điêu 56; khoản 2 Điêu 81; Điêu 82 và Điêu 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Điểm a khoản 5 Điêu 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Vê hôn nhân: Chấp nhận yêu câu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H1.
  2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị M được quyên trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung tên Nguyễn Minh T, sinh ngày 25-02-2009. Ông Nguyễn Thanh H1 không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do bà Nguyễn Thị M không yêu câu.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyên, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đông) án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào tiên tạm ứng án phí là 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0000387 ngày 16-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận. Bà Nguyễn Thị M đã nộp đủ án phí.
  4. Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND TP. PR-TC;
  • - Chi cục THADS TP. PR-TC;
  • - UBND P. Phước Mỹ, TP. PR-TC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thùy Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 05/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị M ly hôn Nguyễn Thanh H1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger