|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 49A/2025/DS-ST Ngày: 17/6/2025 V/v “tranh chấp đòi lại tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Khải
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Hồng Vũ
- Bà Lê Cẩm Huỳnh
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ: Bà Phạm Ngọc Chi - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 147/2025/DS-ST ngày 10/03/2025, về việc tranh chấp đòi lại tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 503/2025/QÐST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Minh K, sinh năm 1966
Địa chỉ: B khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt) - Bị đơn: Bà Cao Thị C, sinh năm 1962
Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (Có yêu cầu xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Trần Minh K trình bày:
Ngày 15/6/2017 ông có cho bà Cao Thị C vay số tiền 30.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận trả trong vòng 14 tháng kể từ ngày vay (15/6/2017 – 15/10/2018), mỗi tháng là 3.000.000 đồng xem như hết nợ. Bà C có thế chấp cho ông quyền sử dụng đất tại thửa đất 1648, tờ bản đồ số 1, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01811 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 30/9/2015 cho bà Cao Thị C. Tuy nhiên sau khi vay bà C không thực hiện đúng như thỏa thuận chỉ trả cho ông được 14.500.000 đồng tiền lãi nên ông khởi kiện yêu cầu bà C phải trả cho ông số nợ gốc là 30.000.000 đồng, không yêu cầu nợ lãi. Trong giai đoạn Tòa án giải quyết vụ án, ông có kiểm tra lại thì thấy rằng bà C đã trả cho ông được tổng số tiền là: 18.700.000 đồng, lần cuối cùng trả là vào tháng 4/2018. Đồng thời bà C cho rằng hoàn cảnh khó khăn nên yêu cầu trả thêm 20.000.000 đồng xem như hết nợ thì ông cũng thống nhất chỉ yêu cầu bà C trả tổng số tiền còn lại là 20.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Do đó ông rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 10.000.000 đồng theo đơn khởi kiện. Tuy nhiên không đồng ý việc bà C trả mỗi tháng 500.000 đồng. Trường hợp bà trả hết nợ cho ông, ông sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 1648 nêu trên cho bà C.
Bị đơn bà Cao Thị C trình bày:
Bà có vay số tiền 30.000.000 đồng của ông Trần Minh K vào ngày 15/6/2017 số tiền 30.000.000 đồng và đã nhận đủ số tiền. Hai bên thỏa thuận trả trong vòng 14 tháng kể từ ngày vay, mỗi tháng là 3.000.000 đồng thì được xem là hết nợ như nguyên đơn trình bày. Sau khi vay thì bà C trả được số tiền như sau:
- - Vào tháng 8/2017 trả 3.000.000 đồng
- - Vào tháng 9/2017 trả 3.000.000 đồng
- - Vào tháng 10/2017 trả 3.000.000 đồng
- - Vào tháng 11/2017 trả 3.000.000 đồng
- - Vào tháng 01/2018 trả 3.000.000 đồng
- - Vào tháng 02/2018 trả 1.500.000 đồng
- - Vào tháng 3/2018 trả 1.200.000 đồng
- - Vào tháng 4/2018 trả 1.000.000 đồng
Tổng số tiền bà đã trả cho nguyên đơn là 18.700.000 đồng. Trừ đi số tiền bà vay thì bà còn nợ nguyên đơn số tiền là 11.300.000 đồng. Tuy nhiên do thời gian dài bà đã không trả thêm cho nguyên đơn nên bà đồng ý trả tổng số tiền 20.000.000 đồng xem như hết nợ và nguyên đơn cũng đã đồng ý. Tuy nhiên do hoàn cảnh khó khăn nên yêu cầu được trả hàng tháng là 500.000 đồng và ông K phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 1648, tờ bản đồ số 1, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01811 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 30/9/2015 khi bà trả xong nợ.
Do bà bị bệnh, đi lại khó khăn nên đề nghị vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân các cấp.
Tại phiên Tòa sơ thẩm ngày hôm nay:
Nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện như sau:
- - Yêu cầu bà Cao Thị C trả cho ông số tiền còn nợ là 20.000.000 đồng. Ông sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 1648, tờ bản đồ số 1, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01811 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 30/9/2015 cho bà Cao Thị C.
- - Rút một phần yêu cầu khởi kiện buộc bà C trả cho ông với số tiền 10.000.000 đồng.
Bị đơn bà Cao Thị C vắng mặt
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là phù hợp quy định pháp luật tố tụng dân sự.
- - Bị đơn vắng mặt nhưng có yêu cầu xét xử vắng mặt đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị: Các bên trình bày thống nhất vào ngày 15/6/2017, bị đơn có vay của nguyên đơn 30.000.000 đồng, trả góp trong vòng 14 tháng, sau khi vay bị đơn đã trả được số tiền 18.700.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án các bên thống nhất cho rằng bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền 20.000.000 đồng và khi bị đơn trả xong nợ thì nguyên đơn trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn. Đây là tự nguyện thỏa thuận của các bên nên đề nghị chấp nhận. Nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền 10.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ phần yêu cầu khởi kiện này. Do bị đơn còn nợ nên bị đơn phải có nghĩa vụ trả 20.000.000 đồng cho nguyên đơn. Bị đơn yêu cầu được trả dần số tiền mỗi tháng là 500.000 đồng nhưng nguyên đơn không đồng ý nên cũng không có cơ sở xem xét chấp nhận đề nghị này của bị đơn.
- - Về án phí: Bị đơn là người cao tuổi nhưng có đơn đề nghị miễn án phí nên không có căn cứ miễn án phí cho bị đơn. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
Xét thủ tục tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật: nguyên đơn ông Trần Minh K khởi kiện yêu cầu bà Cao Thị C trả cho ông số tiền 20.000.000 đồng còn nợ nên thuộc quan hệ tranh chấp đòi lại tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Bị đơn có địa chỉ tại quận T, thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Bị đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, do đó Tòa tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về nội dung:
[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền còn nợ 20.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngày 15/6/2017 nguyên đơn có cho bị đơn vay số tiền 30.000.000 đồng và bị đơn đã nhận đủ số tiền 30.000.000 đồng. Hình thức trả là trả góp trong vòng 14 tháng (từ ngày vay 15/6/2017 đến 15/10/2018) xem như tất nợ (theo giấy nhận nợ vay có thế chấp ngày 15/6/2017). Nguyên đơn cho rằng sau khi nhận tiền bị đơn chỉ trả cho nguyên đơn được 14.500.000 đồng nợ lãi mà không thực hiện đúng việc trả góp theo thỏa thuận nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ gốc là 30.000.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn thừa nhận còn nợ nguyên đơn 20.000.000 đồng, khi bị đơn trả xong nợ thì nguyên đơn phải trả lại cho bị đơn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 1648, tờ bản đồ số 1, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01811 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 30/9/2015 cho bà Cao Thị C (bản chính) và nguyên đơn cũng đồng ý trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi bà C trả hết số tiền 20.000.000 đồng. Xét thấy đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Căn cứ Điều 166 Bộ luật dân sự 2015, bị đơn còn nợ nguyên đơn 20.000.000 đồng nên phải có nghĩa vụ trả số tiền này cho nguyên đơn.
Việc nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của đối với số tiền 10.000.000 đồng là tự nguyện nên Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu này theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015.
Bị đơn cho rằng hoàn cảnh khó khăn nên chỉ đồng ý trả cho nguyên đơn 500.000 đồng/tháng nhưng nguyên đơn không đồng ý nên đề nghị của bị đơn không có cơ sở chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm. Bị đơn là người cao tuổi nhưng không có đơn đề nghị miễn án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 nên không có căn cứ miễn án phí sơ thẩm cho bị đơn. Do đó bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Căn cứ đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt là có cơ sở.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
- - Căn cứ Điều 166, Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 có hiệu lực ngày 01/01/2017 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Minh K.
- - Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
- - Buộc bị đơn bà Cao Thị C có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Nguyên đơn có nghĩa vụ trả lại cho bị đơn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 1648, tờ bản đồ số 1, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01811 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 30/9/2015 cho bà Cao Thị C (bản chính) khi bị đơn trả xong nợ.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Cao Thị C phải chịu 500.000 đồng. Nguyên đơn ông Trần Minh K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 750.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0002562 ngày 26/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Văn Khải |
Bản án số 49A/2025/DS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 49A/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
