Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 499/2023/DS-PT

Ngày 29-11-2023

“V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trung Thành.

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Ngọc Vạng

Bà Kiều Kim Xuân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Ông Phan Trung Quốc, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 307/2023/TLPT-DS ngày 27 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2023/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 408/2023/QĐ-PT ngày 06 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Võ Đức D, sinh năm 1982;
  2. Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông Võ Đức D: Ông Trần Hà Xuân P, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số C, N, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày 16/11/2022).

  3. Bị đơn: Ông Trần Kinh K, sinh năm 1962;
  4. Địa chỉ: Khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị Xuân L, sinh năm 1966;
  6. Người đại diện theo ủy quyền của bà Đặng Thị Xuân L: Ông Trần Kinh K, sinh năm 1962;

    Cùng Địa chỉ: Khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày 18/11/2023).

  7. Người kháng cáo: Ông Trần Kinh K.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 25/8/2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 21/3/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Võ Đức D là ông Trần Hà Xuân P trình bày:

Vào ngày 25/7/2022 ông Võ Đức D và ông Trần Kinh K, bà Đặng Thị Xuân L có thoả thuận về việc ông K, bà L chuyển nhượng cho ông D 01 căn nhà và đất thổ toạ lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, cụ thể đất thổ diện tích là 170m², thuộc thửa 276, tờ bản đồ số 5. Nhà diện tích xây dựng: 82,2m², diện tích sàn: 136,9m². Nhà và đất do Sở T1 cấp ngày 14/01/2021 do ông K đứng tên. Sau khi thoả thuận mua bán xong, để đảm bảo ký kết hợp đồng chuyển nhượng, ông D và ông K, bà L đã ký với nhau hợp đồng đặt cọc lập ngày 25/7/2022, theo đó ông D đặt cọc cho ông K, bà L số tiền là 800.000.000đ, thỏa thuận trong thời hạn 30 ngày ông K, bà L phải cùng ông D đến cơ quan có thẩm quyền để ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà nêu trên theo quy định của pháp luật, nếu bên nào không thực hiện theo đúng theo hợp đồng đặt cọc thì có trách nhiệm bồi thường theo thoả thuận đã giao kết.

Tuy nhiên, đến ngày 25/8/2022 đã quá thời hạn 30 ngày theo thoả thuận tại hợp đồng đặt cọc lập ngày 25/7/2022 nhưng ông K, bà L vẫn không cùng ông D đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà theo ký kết của hợp đồng đặt cọc, đồng thời diện tích đất có thay đổi khi giao kết là 170m², điều chỉnh lại còn 165,5m², thấp hơn so với giao kết ban đầu là 4,5m² nên ông D yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc đề ngày 25/7/2022.

Tại phiên toà, ông P là người đại diện theo uỷ quyền của ông D thống nhất không yêu cầu xem xét thẩm định tại chổ, định giá tài sản nhà và đất như đã nêu trên. Đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết: Huỷ hợp đồng đặt cọc lập ngày 25/7/2022 giữa ông Võ Đức D với ông Trần Kinh K và bà Đặng Thị Xuân L. Buộc ông Trần Kinh K và bà Đặng Thị Xuân L có nghĩa vụ liên đới trả lại cho ông Võ Đức D số tiền đặt cọc đã nhận là 800.000.000đ.

Đối với yêu cầu bồi thường tiền phạt cọc số tiền 800.000.000đ, tại phiên tòa ông P đại diện theo ủy quyền của ông Võ Đức Duy K1 xin rút lại yêu cầu phạt cọc đối với ông Trần Kinh K và bà Đặng Thị Xuân L. Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác.

Tại tờ tường trình ngày 07/11/2022, bản tự khai ngày 15/5/2023, đơn tố cáo ngày 06/3/2023, văn bản ý kiến ngày 12/6/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn ông Trần Kinh K trình bày:

Vào tháng 7/2022 do nhu cầu về tiền bạc để trả Ngân hàng và có vốn để làm ăn, ông K đã kêu ông D chuyển nhượng đất thổ diện tích chuyển nhượng là 170m², thuộc thửa 276, tờ bản đồ số 5 và nhà diện tích xây dựng: 82,2m², diện tích sàn: 136,9m² với giá là 1.500.000.000đ. Sau khi bàn bạc thống nhất, ông D đồng ý đưa cọc số tiền 800.000.000đ để cho ông K trả Ngân hàng rút lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ Ngân hàng về để làm thủ tục sang tên cho ông D. Suốt thời gian thực hiện những điều khoản cam kết trong hợp đồng với ông D, ông K đã hết sức cố gắng, ông K đã bỏ công ăn việc làm nhằm thực hiện theo đúng nghĩa đã cam kết; không vi phạm bất cứ một điều khoản gì. Trong khi ông D có nhiều động thái và những hành vi cố ý lừa lọc, không thực hiện đúng những gì cam kết. Ông khẳng định tài sản nhà và đất trên là tài sản cá nhân ông, nên ông toàn quyền quyết định. Việc bà Đặng Thị Xuân L vợ ông có ký tên vào Hợp đồng là do ông D yêu cầu ký.

Nay ông K không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bên ông D, do ông D là người vi phạm hợp đồng đặt cọc nên ông K không đồng ý trả lại số tiền đã nhận cọc 800.0000.000đ và cũng không đồng ý chuyển nhượng tiếp cho ông D diện tích đất và nhà nêu trên. Ngoài ra, không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Ông K thống nhất không yêu cầu xem xét thẩm định tại chổ, định giá tài sản nhà và đất như đã nêu trên. Đối với số tiền 5.000.000₫ đã đưa cho ông D để liên hệ cấp đổi giấy chứng nhận thì ông K không yêu cầu.

Tại tờ tường trình ngày 12/5/2023, đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 12/5/2023 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Xuân L trình bày:

Vụ việc hợp đồng chuyển nhượng đất và nhà giữa chồng bà L là ông K và ông D thì bà L hoàn toàn không nắm rõ. Đất và nhà chuyển nhượng bà L chỉ biết là em chồng tên là Trần Bích H tặng cho lại cho ông K và chỉ có ông K đứng tên và toàn quyền quyết định. Tất cả vụ việc bất đồng trong việc ký kết hợp đồng với ông D thì bà L không biết và cũng không có ý kiến và yêu cầu gì. Ngoài ra, không yêu cầu gì khác.

* Tại Quyết định bản án sơ thẩm số 21/2023/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp Hợp đồng đặt cọc lập ngày 25/7/2022 của ông Võ Đức D đối với ông Trần Kinh K và bà Đặng Thị Xuân L.
  2. - Hủy hợp đồng đặt cọc lập ngày 25/7/2022 giữa ông Võ Đức D với ông Trần Kinh K, bà Đặng Thị Xuân L.

    - Buộc ông Trần Kinh K và bà Đặng Thị Xuân L có nghĩa vụ liên đới hoàn trả số tiền đặt cọc đã nhận là 800.000.000đ (Tám trăm triệu đồng) cho ông Võ Đức D.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Đức D đối với ông Trần Kinh K và bà Đặng Thị Xuân L về việc yêu cầu ông Trần Kinh K và bà Đặng Thị Xuân L có nghĩa vụ liên đới bồi thường số tiền phạt cọc là 800.000.000đ (T trăm triệu đồng).
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

4

3.1. Ông Trần Kinh K và bà Đặng Thị Xuân L phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 36.300.000đ (Ba mươi sáu triệu ba trăm nghìn đồng). Nhưng do Trần Kinh K là người cao tuổi nên được miễn nộp phần của ông Trần Kinh K.

Số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 18.150.000đ (Mười tám triệu một trăm năm mươi nghìn đồng). Bà Đặng Thị Xuân L phải nộp án phí ứng án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 18.150.000đ (Mười tám triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng).

3.2. Ông Võ Đức D không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0013093, quyền số: 0262 ngày 31/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11 tháng 7 năm 2023, ông Trần Kinh K có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm số 21/2023/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông. Ông Trần Kinh K yêu cầu sửa bản án sơ thẩm số 21/2023/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tuyên xử nguyên đơn ông Võ Đức D mất tiền cọc 800.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Trần Kinh K thừa nhận ngày 25/7/2022 có ký hợp đồng đặt cọc và có nhận số tiền 800.000.000 đồng từ ông Võ Đức D để thỏa thuận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và căn nhà thuộc thửa số 276, tờ bản đồ số 05, diện tích 170m², mục đích đất ở tại nông thôn, đất tọa lạc tại cụm D, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Hai bên đã thỏa thuận thống nhất chuyển nhượng đất và nhà với giá 1.500.000.000 đồng, ông D giao tiền cọc 800.000.000 đồng cho ông K. Do ông D là người vi phạm hợp đồng đặt cọc, ông D đã nhiều lần cố tình né trách không tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất theo Hợp đồng đặt cọc ngày 25/7/2022 nên ông D sẽ mất tiền cọc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Kinh K, tuyên giữ y án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, được kiểm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo ông Trần Kinh K nộp trong hạn luật định nên kháng cáo được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của ông Trần Kinh K:

Xét thấy, các bên đương sự ông Võ Đức D với ông Trần Kinh K và bà Đặng Thị Xuân L đều thừa nhận vào ngày 25/7/2022 ký tên Hợp đồng đặt cọc số tiền 800.000.000 đồng về việc ông K và bà L với ông D thống nhất thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng nhà và đất diện tích 170,0m², giá trị chuyển nhượng là 1.500.000.000 đồng và các bên đã thống nhất giá chuyển nhượng, thống nhất diện tích 170,0m² chuyển nhượng thuộc thửa 276, tờ bản đồ số 5, mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn, đất tọa lạc tại cụm D, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Ngoài ra, các bên cũng thừa nhận tài sản đang thỏa thuận chuyển nhượng đất và nhà đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Đ là phần nhà và diện tích 170,0m², thửa 276, tờ bản đồ số 5, mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn, đất tọa lạc tại cụm D, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Theo thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc ngày 25/7/2022, thể hiện nội dung “- Do bên B đang thế chấp tài sản này cho ngân hàng và bên B không đủ tiền để tất toán tài sản này cho ngân hàng nên bên A sẽ cho bên B mượn 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng) để chuộc tài sản ra. Bên B sẽ tự đem đi đối chiếu lại tài sản trong vòng 30 ngày, khi tài sản đã đủ điều kiện chuyển nhượng thì hai bên tiến hành ra công chứng chuyển nhượng theo thỏa thuận. Do đó, ông K chuộc lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã được cơ quan có thẩm quyền xóa nội dung đăng ký thế chấp ngày 25/7/2022 phù hợp với lời trình bày của ông K tại Tờ tường trình ngày 12/6/2023 ông Trần Kinh K xác định thời hạn 30 ngày kể từ ngày chuộc tài sản là giấy CN.QSDĐ, QSH nhà đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Đ. Ông K đã tiến hành thực hiện thủ tục cấp đổi CN.QSDĐ, QSH nhà thửa số 44, tờ bản đồ số 20 (thửa cũ số thửa 276, tờ bản đồ số 5), diện tích 165,5m², thiếu 4,5m² so với 170m² thỏa thuận chuyển nhượng trong Hợp đồng đặt cọc ngày 25/7/2022 nhưng ông K không gặp ông D để thỏa thuận lại phần diện tích thiếu 4,5m² này. Do đó, có căn cứ xác định lỗi 01 phần thuộc ông K. Tuy nhiên, trước khi Hợp đồng đặt cọc ngày 25/7/2022 được ký kết phía ông D cũng biết giấy CN.QSDĐ, QSH nhà đang được thế chấp tại Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Đ và ông phải thực hiện thủ tục cấp đổi trước khi Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, QSH nhà được ký. Sau khi Hợp đồng đặt cọc được các bên ký kết đã phát sinh tình tiết mới là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh giảm diện tích QSD đất so với diện tích QSDĐ các bên thỏa thuận chuyển nhượng theo Hợp đồng đặt cọc nên đây được xem là yếu tố khách quan.

Từ những chứng cứ trong hồ sơ, cũng như lời trình bày thừa nhận ông ông K và bà L để ký tên vào Hợp đồng đặt cọc ngày 25/7/2022, ông K, bà L có nhận tiền cọc là 800.000.000 đồng là có thật. Đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3]. Về yêu khởi kiện của ông D, theo Hợp đồng đặt cọc ngày 25/7/2022, có nội dung thể hiện: “- Trường hợp sau 30 ngày (kể từ ngày chuộc tài sản), bên B không bán cho bên A thì bên B sẽ chịu bồi thường 200% số tiền đặt cọc, còn bên A không tiến hành công chứng như thỏa thuận nêu trên thì bên A mất cọc.”.

“......Bên B sẽ tự đem đi đối chiếu lại tài sản trong vòng 30 ngày, khi tài sản đã điều kiện chuyển nhượng thì hai bên tiến hành ra công chứng chuyển nhượng theo thoả thuận”.

“......Trong vòng 30 ngày kể từ ngày chuộc tài sản thì hai bên sẽ tiến hành công chứng chuyển nhượng”. Theo thỏa thuận trong vòng 30 ngày kể từ 09 giờ ngày 25/7/2022 là ngày ông K chuộc giấy CN.QSDĐ, QSH nhà từ Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Đ về Phòng kinh tế hạ tầng huyện T để chỉnh lại giấy CN.QSDĐ, QSH nhà đến lúc 11 giờ 19 phút phút ngày 25/8/2022 ông K nhận kết quả và trực tiếp liên hệ với ông D để làm thủ tục chuyển nhượng là quá thời gian 30 ngày so với thoả thuận ban đầu. Do tháng 8/2022 có ngày 31 nên thời hạn từ 09 giờ sáng ngày 25/7/2022 đến hết 24 giờ ngày 24/8/2022 đã hết thời hạn 30 ngày theo Hợp đồng đặt cọc giao kết được qui định tại Điều 147 Bộ luật dân sự nhưng đến ngày 25/8/2022 ông K mới thực hiện thủ tục đổi CN.QSDĐ, QSH nhà xong để thực hiện ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là đã quá thời hạn theo qui định. Ngoài ra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm ông K cũng thừa nhận là bên ông K có trễ 01 ngày so với thỏa thuận đã giao kết theo Hợp đồng đặt cọc.

Mặt khác, sau khi ông K thực hiện thủ tục cấp đổi CN.QSDĐ, QSH nhà xong thì phần diện tích được cấp đổi có giảm diên tích 4,5m² so với Hợp đồng đặt cọc ngày 25/7/2022 này, ông D không đồng ý việc giảm diện tích chuyển nhượng so với hợp đồng đặt cọc ngày 25/7/2022, Hội đồng xét xử xác định đây là lỗi khách quan vì do Nhà nước điều chỉnh lại CN.QSDĐ, QSH nhà không phải lỗi thuộc vào ý chí của các bên giao kết hợp đồng đặt cọc. Nhưng ông D không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng vì cho rằng diện tích giảm không đúng như thoả thuận đã giao kết. Việc các bên không thể thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Hợp đồng đặt cọc ngày 25/7/2022 đã giao kết là do yếu tố khách quan. Do đó, Tòa án sơ thẩm xét xử tuyên hủy hợp đồng đặt cọc ngày 25/7/2022 và buộc hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, do ông D chưa nhận nhà, đất nên ông K, bà L hoàn trả cho ông D tiền đặt cọc đã nhận 800.000.000 đồng là có căn cứ và phù hợp định pháp luật.

[4] Về trách nhiệm liên đới trong việc đồng đặt cọc ngày 25/7/2022: Theo hợp đồng đặt cọc ngày 25/7/2022, thì bà L có ký tên vào Hợp đồng đặt cọc ngày 25/7/2022, nhưng bà L cho rằng tài sản nhà và đất chuyển nhượng là em chồng bà Trần Bích H tặng cho cá nhân ông K và ông K là người toàn quyền quyết định nên bà L không biết và cũng không có ý kiến. Tuy nhiên, ông K và bà L đều thừa nhận là vợ chồng, hiện tại đang trong thời kỳ hôn nhân, trong quá trình chung sống vợ chồng không có thỏa thuận làm ăn riêng. Do hủy hợp đồng đặt cọc ngày 25/7/2022 nên buộc các bên giao trả cho nhau những gì đã nhận. Ông K, bà L đã nhận của ông D số tiền 800.000.000đ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông K và bà L có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông D số tiền đặt cọc đã nhận là 800.000.000đ là phù hợp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trần Kinh K và bà Đặng Thị Xuân L không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của ông K là có căn cứ.

[5] Từ những phân tích như trên Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp với chứng cứ trong hồ sơ cũng như thẩm vấn, tranh tụng tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Kinh K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

7

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

[7] Về án phí phúc thẩm:

Ông Trần Kinh K được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 116, 117, 118, 122, 131, 288, 328, 357, 424, 429, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27, 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Kinh K.
  • - Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 21/2023/DS–ST ngày 27/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp Hợp đồng đặt cọc lập ngày 25/7/2022 của ông Võ Đức D đối với ông Trần Kinh K và bà Đặng Thị Xuân L.
  2. Hủy hợp đồng đặt cọc lập ngày 25/7/2022 giữa ông Võ Đức D với ông Trần Kinh K, bà Đặng Thị Xuân L.

    Buộc ông Trần Kinh K và bà Đặng Thị Xuân L có nghĩa vụ liên đới hoàn trả số tiền đặt cọc đã nhận là 800.000.000đ (Tám trăm triệu đồng) cho ông Võ Đức D.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Đức D đối với ông Trần Kinh K và bà Đặng Thị Xuân L về việc yêu cầu ông Trần Kinh K và bà Đặng Thị Xuân L có nghĩa vụ liên đới bồi thường số tiền phạt cọc là 800.000.000đ (T trăm triệu đồng).
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  5. 3.1. Ông Trần Kinh K và bà Đặng Thị Xuân L phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 36.300.000đ (Ba mươi sáu triệu ba trăm nghìn đồng). Nhưng do Trần Kinh K là người cao tuổi nên được miễn nộp phần của ông Trần Kinh K.

    Số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 18.150.000đ (Mười tám triệu một trăm năm mươi nghìn đồng). Bà Đặng Thị Xuân L phải nộp án phí ứng án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 18.150.000đ (Mười tám triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng).

8

3.2. Ông Võ Đức D không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0013093, quyển số: 0262 ngày 31/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

4. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Kinh K được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV THA Tòa án Tỉnh,
  • VKSND Tỉnh;
  • - Tòa án ND huyện Tam Nông;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Nông;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA, TDS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Trung Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 499/2023/DS-PT ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 499/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Võ Đức D khởi kiện yêu cầu hủy Hợp đồng đặt cọc, buộc ông Kh và bà L hoàn trả lại tiền đặt cọc 800.000.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger