Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 499/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26-4-2024

V/v tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Thành Viên
  2. Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương là Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Duy Bảo Chinh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1445/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2024/QÐST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bích T, sinh năm 1991; địa chỉ cư trú: 228/20 T, tổ A, Khu phố A, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh;
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Như N, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú: 228/20 T, Tổ A, Khu phố A, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Lê Thị Bích T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Như N tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 08 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 02/02/2018. Mâu thuẫn gia đình phát sinh là do bất đồng quan điểm sống, giữa bà và ông N thường xuyên xảy ra cãi vã, xung đột nên cuộc sống chung không hạnh phúc. Nhiều lần vợ chồng ông bà ngồi lại hòa giải tìm cách hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả. Nay bà nhận thấy mẫu thuẫn giữa bà và ông N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên bà yêu cầu được ly hôn với ông N.

Về con chung, có một người con chung là Nguyễn Lê Đức V, sinh ngày 02/7/2018. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông N là bị đơn mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập đến tòa lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông N không đến nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về phiên toà sơ thẩm.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Theo yêu cầu khởi kiện của bà T quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn cư trú tại quận G nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

2

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà T và ông N là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp được pháp luật công nhận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 08 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 02/02/2018.

Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hôn nhân chỉ đạt được mục đích khi xuất phát từ tình thương yêu giữa hai vợ chồng, cùng chung sống, cùng vun đắp, chăm sóc lẫn nhau để xây dựng một gia đình hạnh phúc.

T cho rằng cuộc sống chung giữa bà và ông N không có hạnh phúc, thường xuyên cãi vã và xung đột. Mặc dù Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông N về nguyên nhân mâu thuẫn giữa ông và bà T nhưng căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện ông N đã nhiều lần trực tiếp nhận được các văn bản của Tòa án nhưng ông N không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của bà T, cũng không tham gia các phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa xét xử để tìm cách giải quyết, hàn gắn hạnh phúc gia đình. Như vậy ông N không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình.

Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông N là có thật, đã trầm trọng, tình cảm không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T theo quy định tại Điều 51, Khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà T yêu cầu được nuôi dưỡng con chung là trẻ Nguyễn Lê Đức V, sinh ngày 02/7/2018. Ông N dù nhiều lần trực tiếp nhận các văn bản của Tòa án nhưng không có ý kiến phản đối về yêu cầu nuôi con của bà T. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà T theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về việc cấp dưỡng nuôi con, việc bà T không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét, sau này phát sinh tranh chấp sẽ được khởi kiện bằng một vụ kiện khác.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí tòa án.

3

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp về việc giải quyết vụ án là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Bích T được ly hôn với ông Nguyễn Như N.

Giấy chứng nhận kết hôn số 08 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 02/02/2018 hết hiệu lực.

- Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Lê Đức V, sinh ngày 02/7/2018 cho bà Lê Thị Bích T trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Lê Thị Bích T không yêu cầu ông Nguyễn Như N cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Như N quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở, tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Trên cơ sở lợi ích của con, cha, mẹ, người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Khi cần thiết đương sự có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Lê Thị Bích T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) bà Lê Thị Bích T đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0012842 ngày 16/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Bà Lê Thị Bích T đã đóng đủ án phí.

4

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ việc dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Nhung

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 499/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 499/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger