|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 499/2025/DS-PT Ngày 18 tháng 12 năm 2025 V/v tranh chấp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Quang Thế
Các Thẩm phán: Ông Lê Phan Công Trí
Bà Tiêu Hồng Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn – Là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Nguyệt Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 18/12/2025 tại Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 440/2025/TLPT-DS ngày 03/11/2025 về việc tranh chấp hụi.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 61/2025/DS-ST ngày 14/8/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 4 – Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 508/2025/QĐ-PT ngày 27/11/2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thùy T, sinh năm 1988.
- Người đại diện theo uỷ quyền của bà T là: Bà Lê Thanh M, sinh năm 1950 Cùng địa chỉ cư trú: Khóm A, xã C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- - Bị đơn: Bà Thái Kim N, sinh năm 1992 và ông Trần Quang C (Trần Văn C1), sinh năm 1991. Cùng địa chỉ cư trú: Khóm N, xã C, tỉnh Cà Mau. (có mặt).
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thanh M, sinh năm 1950. Địa chỉ cư trú: Khóm A, xã C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- - Người kháng cáo: Bà Thái Kim N là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 01 năm 2025 và trình bày của bà Lê Thanh M: Ngày 10/02/2023 âm lịch, bà Thái Kim N có mở một dây hụi 2.000.000 đồng, có 25 chân, khui vào ngày 10 âm lịch hàng tháng, bà tham gia 01 chân nhưng bà N để tên con gái bà là Nguyễn Thùy T đứng tên trong “Danh sách hụi”.
Hụi có thoả thuận tiền hoa hồng mỗi kỳ khui cho chủ hụi là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
Đến kỳ khui thứ 11 vào ngày 10/12/2023 âm lịch, bà nhờ bà Nguyễn Thùy T bỏ hụi với giá 1.110.000 đồng (Một triệu một trăm mười nghìn đồng) và đã hốt hụi. Tuy nhiên, sau đó bà N xin giao hụi trễ thì bà không đồng ý, bà N xin trả lại hụi chết của 10 kỳ là 20.000.000 đồng thì bà đồng ý, nghĩa là bà N sẽ trả lại cho bà 10 lần hụi chết đã khui với số tiền là 20.000.000 đồng và chân hụi của bà sẽ dừng lại không tiếp tục chơi nữa. Nhưng sau đó bà N chỉ giao cho bà 3.500.000 đồng và chuyển khoản cho Nguyễn Thùy T số tiền 6.500.000 đồng, tổng cộng bà N giao được cho bà số tiền hụi là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) còn nợ lại 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Sau đó bà N kéo dài không trả số tiền hụi còn nợ cho bà nên bà có làm đơn gửi đến Công an huyện C yêu cầu điều tra việc bà N có dấu hiệu lừa đảo. Khi làm việc tại công an huyện C thì Công an nói bà N không có dấu hiệu lừa đảo và kêu bà khởi kiện dân sự tại Toà án. Do trong “Danh sách hụi” con gái bà là Nguyễn Thùy T đứng tên nên bà để con gái bà đứng tên đơn khởi kiện. Nay bà đại diện theo uỷ quyền của con gái bà là Nguyễn Thùy T yêu cầu bà Thái Kim N và chồng là anh Trần Văn C1 có nghĩa vụ trả lại cho Nguyễn Thùy T số tiền hụi còn nợ là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) và tiền lãi tính theo quy định pháp luật tính từ ngày 25/12/2023 âm lịch đến khi giải quyết xong vụ án.
Tại biên bản hoà giải ngày 25 tháng 3 năm 2025 bà Thái Kim N trình bày: Ngày 10/02/2023 âm lịch, bà có mở một dây hụi 2.000.000 đồng, có 25 chân, khui vào ngày 10 âm lịch hàng tháng, bà Nguyễn Thùy T tham gia 01 chân. Hụi có thoả thuận tiền hoa hồng mỗi kỳ khui cho chủ hụi là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
Đến kỳ khui thứ 11 vào ngày 10/12/2023 âm lịch bà T bỏ hụi với giá 1.110.000 đồng (Một triệu một trăm mười nghìn đồng) và đã hốt hụi, số tiền hốt được là 32.460.000 đồng, trừ tiền hoa hồng 1.200.000 đồng, còn lại 31.260.000 đồng (Ba mươi mốt triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng). Tuy nhiên khi đó bà N đang mang thai nên có nói với bà T xin chậm giao hụi vài tháng nhưng bà T không đồng ý nên bà nói sẽ trả lại tiền 10 lần đóng hụi cho bà T bằng giá hụi chết là: 2.000.000 đồng x 10 lần = 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) thì bà T đồng ý. Tháng 01/2024 âm lịch, bà đã có giao cho bà T số tiền hụi là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), nhưng khi bà yêu cầu trừ tiền hoa hồng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) thì bà T không đồng ý. Khoảng tháng 02/2024 âm lịch, bà T làm đơn yêu cầu công an huyện C giải quyết. Khi giải quyết ở Công an huyện C thì bà T yêu cầu bà chung đủ tiền hụi là 31.260.000 đồng (Ba mươi mốt triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng) và yêu cầu Công an điều tra dây hụi của bà vì bà T cho rằng dây hụi của bà có dấu hiệu hình thức “hụi ma”. Khi đó, bà cũng đồng ý tiếp tục giao số tiền hụi là 31.260.000 đồng (Ba mươi mốt triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng) cho bà T, nhưng phải trừ lại hụi chết cho bà. Tuy nhiên, Công an huyện C mời bà T làm việc nhiều lần để thoả thuận nhưng bà T không đến và đến nay bà vẫn chưa nhận được thông báo của Công an huyện C về kết quả giải quyết đơn yêu cầu của bà T đối với bà. Do chưa có kết quả giải quyết của Công an nên bà vẫn chưa giao đủ tiền hụi cho bà T.
Hiện tại hụi đã mãn vào ngày 10/02/2025 âm lịch. Tính đến nay bà T còn nợ lại bà tiền hụi chết là 6.740.000 đồng (Sáu triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng). Do đó, bà không đồng ý yêu cầu của bà T về việc bà T yêu cầu vợ chồng bà trả tiền hụi 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) và tiền lãi tính theo quy định pháp luật tính từ ngày 25/12/2023 âm lịch, đến khi giải quyết xong vụ án.
Việc bà N mở hụi và làm chủ hụi thì chồng bà là ông Trần Văn C1 có biết và không có ngăn cản. Mục đích mở hụi của bà là để nhận tiền hoa hồng dùng vào trang trải cuộc sống chung trong gia đình.
Từ nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 61/2025/DS-ST ngày 14/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau Quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thùy T. Buộc vợ chồng bà Thái Kim N và ông Trần Quang C cùng có trách nhiệm liên đới thanh toán cho bà Nguyễn Thùy T số tiền hụi và tiền lãi suất là 12.907.000 đồng (Mười hai triệu chín trăm lẻ bảy nghìn đồng), trong đó, nợ tiền hụi là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) và tiền lãi suất là 2.907.000 đồng (Hai triệu chín trăm lẻ bảy nghìn đồng).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm thi hành, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 28/8/2025, bà N kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Các đương sự giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm chứng cứ mới. Bà T không đồng ý trả lãi, bà M yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung, cấp sơ thẩm buộc bị đơn trả nguyên đơn 10.000.000đ là phù hợp, còn về lãi suất tính theo mức lãi 20%/năm là chưa phù hợp, cần điều chỉnh lại theo mức 10%/năm, nên kiến nghị HĐXX sửa một phần bản án sơ thẩm số 61/2025/DS-ST ngày 14/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau theo hướng đã nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hình thức, nội dung đơn kháng cáo và thời hạn kháng cáo được bà N thực hiện đúng quy định tại các Điều 272, 273 Bộ luật TTDS, HĐXX sẽ xem xét kháng cáo của bà theo quy định. Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hụi nên cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định tại điều 26, 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của bà N: Tại phiên tòa các đương sự thừa nhận khi bà T hốt hụi, bà N sau khi tính toán đã trừ tiền cò, số tiền còn phải giao cho bà T là 31.260.000 đồng. Tuy nhiên, khi đó bà N xin bà T được chậm giao hụi vài tháng nhưng bà T không đồng ý, nên giữa bà N và bà T đã thỏa thuận chấm dứt việc chơi hụi giữa hai người, bà N trả lại cho bà T 10 lần đóng hụi sống bằng giá hụi chết: 2.000.000 đồng x 10 lần = 20.000.000 đồng, việc thỏa thuận này được hai bên đồng ý trên tinh thần tự nguyện, đến tháng 01/2024 âm lịch, bà N đã trả cho bà T số tiền 10.000.000 đồng, còn lại 10.000.000 đồng chưa trả. Xét thấy việc thỏa thuận từ việc chơi hụi, hốt hụi, chấm dứt hụi, hoàn trả lại cho nhau số tiền đã đóng bằng giá hụi chết và đã hoàn trả ½ số tiền thỏa thuận, giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện phù hợp quy định của pháp luật nên cần buộc các bên tiếp tục thực hiện thỏa thuận này, phía bà N tiếp tục hoàn trả cho bà T 10.000.000 đồng là phù hợp.
Về khoản lãi, trong số tiền 20.000.000₫ hai bên thỏa thuận là đã có lãi, tuy nhiên trong số tiền này có bao nhiêu vốn và bao nhiêu lãi hai bên không phân tích ra được, nhưng có cơ sở xác định mức lãi tương đối cao, thể hiện ở lần bà T hốt hụi đã bỏ 1.110.000 đồng để hốt, (số tiền bỏ hụi này bằng tiền lãi của một kỳ đóng hụi, tức là hụi 2.000.000 đồng người chơi phải đóng 890.000 đồng, lãi được hưởng 1.110.000 đồng) án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu tính lãi trên số tiền thỏa thuận, như vậy là trong bản án sơ thẩm có một phần tính lãi chồng lãi, việc tính như vậy là không phù hợp quy định của pháp luật, nên HĐXX chấp nhận kháng cáo của bà N sửa một phần án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu tính lãi của bà T là phù hợp.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu kiến nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bà N về điều chỉnh lãi theo mức 10%/năm là chưa phù hợp với nhận định của HĐXX.
[3] Án phí phúc thẩm bà N không phải chịu theo quy định tại điều 148 Bộ luật TTDS. Án phí sơ thẩm được điều chỉnh lại cho phù hợp.
[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị HĐXX không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148; khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ Luật Tố Tung Dân Sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Thái Kim N. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 61/2025/DS-ST ngày 14/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Cà Mau. Tuyên Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thùy T. Buộc vợ chồng bà Thái Kim N và ông Trần Quang C cùng có trách nhiệm liên đới thanh toán cho bà Nguyễn Thùy T số tiền hụi là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).
- Không chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thùy T về việc yêu cầu vợ chồng bà Thái Kim N và ông Trần Quang C hoàn trả khoản tiền lãi là 2.907.000 đồng (Hai triệu chín trăm lẻ bảy nghìn đồng).
Kể từ ngày bà T có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp vợ chồng bà N và ông C chậm thanh toán số tiền này thì hàng tháng vợ chồng ông bà còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền chậm thi hành đến khi thi hành xong.
- Về án phí dân sự:
- - Án phí sơ thẩm: Vợ chồng bà Thái Kim N và ông Trần Quang C phải chịu 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).
- Bà Nguyễn Thùy T phải chịu 300.000đ, ngày 15/01/2025 bà đã nộp tạm ứng 520.000 đồng, theo lai thu số 0019107 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 – Cà Mau) được hoàn lại 220.000₫.
- - Án phí phúc thẩm: Bà N không phải chịu. Ngày 26/9/2025 bà N đã nộp số tiền 300.000đ, tại lai thu số 0000513 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển hoàn lại.
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ninh Quang Thế |
5
Bản án số 499/2025/DS-PT ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi
- Số bản án: 499/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận 1 phần kháng cáo, sửa 1 phần bản án sơ thẩm
