Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 499/2024/DS-PT

Ngày: 05/12/2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay

tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Văn Uẩn.

Các Thẩm phán: 1. Ông Trần Văn Quán.

2. Ông Nguyễn Văn Thu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Chính Hào – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Chi – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 29 tháng 11 năm 2024 và ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 410/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 24/2024/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 428/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số B, ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Long An.
  2. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đặng Trường C, sinh năm 1974. Địa chỉ thường trú: Số E, N, Phường A, thành phố T, tỉnh Long An. Địa chỉ liên lạc: Số C đường H, Phường E, thành phố T, tỉnh Long An.

  3. Bị đơn:
    1. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1974.
    2. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Trường G, sinh năm 1988. Địa chỉ: Khu phố C, Phường A, thị xã K, tỉnh Long An.

    3. Ông Phạm Văn B, sinh năm 1976.
    4. Bà Phạm Thị Tuyết N, sinh năm 2004.
    5. Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, thị xã K, tỉnh Long An.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Phạm Văn B và bà Phạm Thị Tuyết N: Luật sư Trần Mộng H - Văn phòng Luật sư Trần Mộng H thuộc Đoàn luật sư tỉnh L.

  1. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Văn H1, sinh năm 1968. Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Trường C, sinh năm 1974. Địa chỉ: Số C đường H, Phường E, thành phố T, tỉnh Long An.

Người kháng cáo: Nguyên đơn, bà Trần Thị L.

(Có mặt ông Đặng Trường C, ông Trần Trường G, ông Ngô Văn H1, Luật sư Trần Mộng H; những người còn lại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Trần Thị L, người đại diện theo ủy quyền ông Đặng Trường C trình bày:

Bà Trần Thị L và bà Nguyễn Thị L1 là bạn bè quen biết. Bà L đã cho bà L1 vay tiền trong 06 lần, tính đến ngày 09/9/2022 âm lịch (tức dương lịch ngày 04/10/2022) chốt lại số nợ gốc là 1.850.000.000 đồng theo giấy biên nhận nợ tiền chữ viết tay, nội dung biên nhận do bà L1 đọc cho ông Trần Văn M viết giùm. Thời gian và số tiền vay cụ thể từng lần thì bà L không còn nhớ vì sau khi viết biên nhận ngày 09/9/2022 âm lịch, các biên nhận trước đã hủy bỏ. Việc sửa chữa ngày trong biên nhận là theo sự thống nhất của hai bên viết theo ngày âm lịch.

Mục đích bà L1 vay tiền để trả nợ ngân hàng, thoả thuận miệng hạn vay khi nào bà L cần tiền thì báo trước, tiền lãi 2.000 đồng/ngày/1 triệu đồng nhưng từ khi vay tiền đến nay bà chưa nhận được khoản lãi nào. Phía bị đơn cho rằng trong số tiền 1.850.000.000 đồng là bao gồm tiền lãi 5.000 đồng/ngày/01 triệu đồng là không đúng, cũng không có chứng cứ chứng minh, nguyên đơn không thừa nhận. Vì tin tưởng nên khi cho vay, bà L không thông báo cho ông B biết. Trong các lần nhận tiền vay có con của bà L1 là Phạm Thị Tuyết N đi cùng đến nhận tiền.

Đối với Biên nhận giao tiền ngày 29/9/2023 mà bà L1 cung cấp về việc bà L1 đã trả cho bà L 1.850.000.000 đồng, đây là tiền bà L1 trả cho khoản vay theo giấy Biên nhận chữ viết tay không đề ngày tháng, nội dung “Biên nhận tổng cộng 2 lần tiền của anh T và chị L 1850 (một tỷ tám 5 chục) ...”, khoản vay này khác với khoản vay bà L đang khởi kiện. Trong Biên nhận ngày 29/9/2023 cũng không thể hiện nội dung bà L1 trả khoản nợ của Biên nhận ngày 09/9/2022 âm lịch như đã nêu trên.

Tờ biên nhận nợ không đề ngày tháng ghi “Biên nhận tổng cộng 2 lần tiền ....” khi bà photo nộp cho Toà án Kiến Tường trong vụ án thụ lý số 61/2023/TLST-DS thì chưa có chữ ký của người làm chứng ông Trần Văn M, sau đó bà L và bà L1 cùng đến gặp ông M nhờ ký làm chứng vào biên nhận gốc nên hiện nay biên nhận gốc có chữ ký của ông M.

Bà L xác định khoản tiền vay theo Biên nhận ngày 09/9/2022 âm lịch và theo biên nhận không đề ngày tháng bà L1 ghi “Biên nhận tổng cộng 2 lần tiền ...” đều không liên quan đến ông Đặng Hoàng T. Lý do: trước đây bà L khai trong số tiền bà khởi kiện có một phần tiền bà L1 vay ông T và trong biên nhận không đề ngày tháng bà L1 ghi nhận tiền 2 lần của bà và ông T là vì nguồn tiền từ ông T đưa bà L vay rồi bà L cho bà L1 vay lại. Hiện nay số tiền ông T đưa bà L thì ông T đã khởi kiện bà L, có bản án buộc bà phải trả cho ông T, bà đã thi hành xong.

Số tiền đang tranh chấp là tài sản chung của bà L và chồng là ông Ngô Văn H1, tuy nhiên mọi thoả thuận đều do bà L trực tiếp làm, ông H1 không nắm rõ.

Bà Trần Thị L khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị L1, ông Phạm Văn B, bà Phạm Thị Tuyết N liên đới trả số tiền nợ vay gốc 1.850.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 09/9/2022 đến ngày 09/10/2023 theo lãi suất 0,83%/tháng thành tiền 199.615.000 đồng, không yêu cầu tính lãi từ ngày 09/10/2023 đến nay.

* Bị đơn, bà Nguyễn Thị L1, người đại diện theo uỷ quyền là ông Trần Trường G trình bày:

Bà Nguyễn Thị L1 và bà Trần Thị L là bạn bè, trước đây bà L1 nhiều lần vay tiền của bà Trần Thị L (không nhớ rõ thời gian) cụ thể lần vay 70.000.000 đồng; lần vay 50.000.000 đồng; lần vay 90.000.000 đồng; lần vay 150.000.000 đồng; lần vay 135.000.000 đồng và lần vay 950.000.000 đồng. Tổng số tiền bà L1 vay của bà L là 1.445.000.000 đồng, trong đó có 950.000.000 đồng từ nguồn tiền ông T đưa cho bà L rồi bà L cho bà L1 vay lại. Bà L tính lãi 5.000 đồng/ngày/1 triệu đồng. Sau đó các bên ký biên nhận chốt nợ gốc, lãi thành 1.850.000.000 đồng như biên nhận bà L cung cấp. Tuy nhiên, biên nhận này theo bà L1 xác định là viết vào khoảng tháng 01/2023 nhưng bị sửa lùi ngày là 09/9/2022 nhằm mục đích ràng buộc trách nhiệm của bà L1 và ông B vì năm 2023 bà và ông B đã ly hôn.

Mục đích bà L1 vay tiền của bà L để cho người khác vay lại nhằm hưởng tiền lãi chêch lệch phục vụ nhu cầu cá nhân. Tuy nhiên, người vay đã bỏ địa phương đi đâu không rõ nên bà L1 cũng chưa lấy được gốc và lãi.

Phạm Thị Tuyết N là con gái bà L1 và ông B, Tuyết N không vay tiền và cũng không ký trong biên nhận nên không đồng ý Tuyết N liên đới trả tiền cho bà L. Khi bà L1 vay tiền của bà L thì ông B không biết nên ông B không có trách nhiệm liên đới.

Số tiền chốt nợ 1.850.000.000 đồng theo biên nhận các bên không thoả thuận thời hạn trả, chỉ thoả thuận miệng khi nào bà L1 có tiền thì trả, không thoả thuận trả thêm lãi. Vào ngày 29/9/2023, bà L1 đã thanh toán xong cho bà L 1.850.000.000 đồng, bà L có ký nhận đủ tiền vào biên nhận, đã có kết luận giám định xác định là chữ ký của bà L. Do đó, bà L1 không còn nợ tiền bà L.

Bà L1 xác định Biên nhận nợ tiền ngày 09/9/2022 mà bà L đang khởi kiện với Biên nhận viết tay không đề ngày tháng, nội dung ghi “Biên nhận tổng cộng 02 lần tiền của anh T và chị L 1.850 ....” là cùng một khoản vay. Lý do bà L1 viết 02 biên nhận: là vì sau khi viết biên nhận nợ tiền ngày 09/9/2022 thì bà L không đồng ý, bà L nói ông T yêu cầu viết lại biên nhận mới nên bà L1 tin tưởng và viết lại biên nhận thứ hai, trong đó có ghi của ông T 950.000.000 đồng vì nguồn tiền này bà L nhận từ ông T rồi đưa bà L1 vay lại.

Mặt khác, trong vụ án thụ lý số 61/2023/TLST-DS của Toà án Kiến Tường, bà L khởi kiện bị đơn số tiền vay 1.850.000.000 đồng (đã đình chỉ vì bà L rút đơn), bà L cung cấp biên nhận ngày 09/9/2022 và biên nhận không đề ngày tháng nội dung ghi “Biên nhận tổng cộng 02 lần tiền của anh T và chị L 1.850 ....”. Tại biên bản làm việc ngày 21/8/2023 của Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường, bà L khai các biên nhận cũ đã gom vào thành biên nhận ngày 09/9/2022 là 1.850.000.000 đồng trong đó bao gồm 900.000.000 đồng bà L1 mượn của bà L và 950.000.000 đồng bà L1 mượn của ông T, ngoài khoản vay này thì bà L1 không còn nợ khoản nào khác. Lúc đó bà L đang bị ông T khởi kiện đòi tiền nợ vay, vì bà L không muốn thanh toán cho ông T nên đã khai bà L1 vay của ông T 950.000.000 đồng, để chứng minh cho phần trình bày bà L đã cung cấp tờ biên nhận viết tay không đề ngày tháng nội dung “Biên nhận tổng cộng 2 lần tiền của anh T và chị L 1.850....”.

Do đó, bà L1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện trả tiền nợ vay gốc và lãi của bà L vì bà L1 đã trả xong nợ.

Bà L1 xác định khoản tiền đang tranh chấp không liên quan đến ông Đặng Hoàng T, lý do trong biên nhận không ngày tháng bà L1 ghi nhận tiền tổng cộng 2 lần của anh T và chị L1 vì trong đó có 950.000.000 đồng ông T cho bà L vay, bà L cho bà L1 vay lại.

Trong số tiền 1.850.000.000 đồng nêu trên chỉ có tiền vay gốc 1.445.000.000 đồng, còn lại là tiền lãi bà L tính 5.000 đồng/ngày/triệu đồng.

* Bị đơn, ông Phạm Văn B trình bày:

Ông Phạm Văn B và bà Nguyễn Thị L1 là vợ chồng nhưng đã ly hôn năm 2023. Ông B không biết việc bà L1 vay tiền của bà L, bà L1 cũng không mang tiền về sử dụng trong gia đình nên ông không đồng ý liên đới trả nợ.

Phạm Thị Tuyết N, sinh ngày 23/4/2004 là con gái của ông với bà L1, cháu N không vay tiền của bà L và cũng không ký nhận nợ nên không đồng ý việc bà L yêu cầu cháu N liên đới trả nợ.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Tuyết N vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

* Người làm chứng, ông Trần Văn M trình bày: Ông là em ruột của bà Trần Thị L, trước đây bà L và bà L1 có nhờ ông ký làm chứng trong giấy vay tiền, ông chỉ ký mà không đọc nội dung và không nhớ ký thời gian nào vì ký nhiều lần, khi ký làm chứng thì có mặt bà L và bà L1, không có mặt ông B và cháu N.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường đã tuyên xử:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 161, 162, 227, 228, 244, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 463, 466, 469 của Bộ luật Dân sự;

Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Nguyễn Thị L1, ông Phạm Văn B, bà Phạm Thị Tuyết N đối với số tiền nợ vay gốc 1.850.000.000 đồng và tiền lãi 199.615.000 đồng.

2. Về chi phí tố tụng: Bà Trần Thị L phải chịu chi phí giám định là 5.500.000 đồng. Bà Trần Thị L có trách nhiệm hoàn trả số tiền này (5.500.000 đồng) cho bà Nguyễn Thị L1.

Trường hợp bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về án phí sơ thẩm: Bà Trần Thị L có nghĩa vụ nộp án phí dân sự số tiền 72.992.000 đồng. Bà L được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 36.496.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0003103 ngày 18/12/2023 của Chi Cục thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường. Bà Trần Thị L còn phải tiếp tục nộp 36.496.000 đồng.

Bản án còn tuyên về quyền, thời hạn kháng cáo và yêu cầu thi hành án.

Ngày 06/6/2024, nguyên đơn, bà Trần Thị L kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án.

* Đại diện nguyên đơn, ông Đặng Trường C trình bày:

Giấy vay nợ không ghi ngày tháng với số tiền 1.850.000.000 đồng là được xác lập vào ngày 28/9/2022. Chứng minh, dựa vào tài liệu của hồ sơ vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thụ lý số 28/2023/TLST-DS ngày 22/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng đó là: Tại Bản tự khai của bà Nguyễn Thị L1 ngày 15/5/2023 và tại Biên bản ghi lời khai của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng ngày 15/5/2023 đối với bà Nguyễn Thị L1 thì bà L1 xác định: ngày 20/9/2023, bà L1 vay số tiền 650.000.000 đồng của ông Đặng Hoàng T; ngày 28/9/2022, bà L1 vay của ông T 300.000.000 đồng. Khi đó ông T là người viết biên nhận và bà L1 là người ký nhận, do bà L1 không có đọc kỹ biên nhận nên không biết là khi đó ký nhận nợ của ai, nhưng xác định có nhận số tiền 950.000.000 đồng từ ông T. Do các biên nhận nợ ông T giữ, bà L1 không có giữ nên không có gì để chứng minh thiếu nợ với ông T.

Từ đó, người đại diện của bà L cho rằng, biên nhận bà L khởi kiện là Biên nhận ghi ngày 09/9/2022, còn biên nhận không ghi ngày tháng là ghi sau ngày 09/9/2022, vì bà L1 nhận tiền của ông T theo biên nhận ngày 20/9/2022 và biên nhận ngày 28/9/2022 nên khoản nợ của biên nhận ghi “tổng cộng 2 lần tiền của anh T và chị L” là viết sau (thực tế là ngày 28/9/2022), nên không thể cho rằng đã được ghi chung vào biên nhận nhận tiền ngày 09/9/2022 là biên nhận đã ghi trước đó mà nguyên đơn đã khởi kiện trong vụ án này. Do đó, bà L1 chỉ trả nợ cho bà L 1.850.000.000 đồng đối với biên nhận không ghi ngày tháng, còn biên nhận nợ ngày 09/9/2022, bà L1 chưa trả cho bà L.

Ngoài ra, cấp sơ thẩm cũng vi phạm tố tụng như không cho các bên đối chất số tiền nợ, không hòa giải lại sau khi có kết luận giám định của Công an tỉnh L.

Do đó, đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn hoặc hủy án sơ thẩm để xem xét lại theo quy định pháp luật.

* Đại diện bị đơn, ông Trần Trường G trình bày:

Không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn, đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Phạm Văn B và bà Phạm Thị Tuyết N là Luật sư Trần Mộng H trình bày:

Tại vụ án thụ lý số 61/2023 ngày 24/5/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, vào tháng 5/2023, bà L rút một phần yêu cầu khởi kiện. Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường có lấy lời khai ngày 21/8/2023, bà L khai trong tổng số 1.850.000.000 đồng bà L khởi kiện có 950.000.000 đồng của ông T, nên bà L chỉ yêu cầu bà L1 trả phần của bà là 900.000.000 đồng và bà L đã trình biên nhận không ngày tháng để chứng minh. Điều đó cho thấy bà L1 chỉ có nợ của bà L 1.850.000.000 đồng và khoản nợ này bà L1 đã trả xong cho bà L theo biên nhận ngày 29/9/2023.

Ông B và bà L1 đã ly thân trước đó và đã có quyết định thuận tình ly hôn ngày 25/8/2023. Việc vay nợ của bà L1 là trong thời kỳ ly thân, không có bàn bạc thống nhất với ông B, bà L1 cũng thừa nhận điều đó. Đối với cháu N, việc vay nợ của bà L1 cháu N không có ký tên nhận nợ cùng bà L1. Do đó, ông B và cháu N không có trách nhiệm liên đới trả các khoản nợ theo yêu cầu của bà L.

Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà L. Vụ án cũng không thuộc trường hợp phải hủy án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu:

- Về thủ tục: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng tuân thủ đúng qui định về thủ tục tố tụng. Kháng cáo của bà Trần Thị L kháng cáo trong hạn luật định, đúng thủ tục, Tòa án thụ lý giải quyết theo trình tự phúc thẩm là có căn cứ.

- Quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Bà Trần Thị L yêu cầu bà Nguyễn Thị L1, Phạm Văn B, Phạm Thị Tuyết N liên đới trả số tiền nợ vay 1.850.000.000 đồng là chưa đủ cơ sở vì:

Bà L1 thừa nhận có ký nhận nợ bà L 1.850.000.000 đồng theo biên nhận ngày 09/9/2022, bà L1 cũng cung cấp chứng cứ là Biên nhận giao tiền ngày 29/9/2023 thể hiện bà L1 đã trả nợ xong cho cho bà L số tiền trên, có chữ ký của bà L, có kết luận giám định, sau đó bà L cũng thừa nhận chữ ký của mình.

Bà L cho rằng số tiền bà L1 trả theo biên nhận ngày 29/9/2023 là thanh toán cho khoản nợ theo biên nhận không ghi ngày tháng có chữ ký của bà L1 và người làm chứng ông Trần Văn M.

Xét thấy, trước đây bà L đã khởi kiện tại Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường, được thụ lý số 61/2023/TLST-DS (đã đình chỉ do rút đơn) thì bà L cũng khởi kiện bị đơn trả 1.850.000.000 đồng và cung cấp biên nhận không ghi ngày tháng nêu trên, không có chữ ký của người làm chứng Trần Văn M. Trong vụ án này (vụ án thụ lý số 175/2023/TLST-DS) bà L cung cấp tờ biên nhận không ghi ngày tháng có cùng nội dung và có chữ ký người làm chứng Trần Văn M. Tại phiên toà, bà L thừa nhận biên nhận nộp cho Toà án trong vụ án thụ lý số 61/2023/TLST-DS và biên nhận cung cấp trong vụ án này là cùng một biên nhận, ông M ký làm chứng vào thời gian sau này.

Trong vụ án thụ lý số 61/2023/TLST-DS bà L yêu cầu bị đơn trả 1.850.000.000 đồng thì bà L nộp Biên nhận đề ngày 09/9/2022 và cũng nộp Biên nhận không ghi ngày tháng. Trên cả 02 biên nhận đều thể hiện số tiền cho vay 1.850.000.000 đồng. Tại biên bản làm việc ngày 21/8/2023 của Tòa án, bà L trình bày ngoài số tiền 1.850.000.000 đồng theo biên nhận ngày 09/9/2022 (trong đó có 950.000.000 đồng của ông T, 900.000.000 đồng của bà) thì bà L1 không còn vay khoản nào khác vì các biên nhận cũ đã gom vào thành 01 biên nhận ngày 09/9/2022. Từ đó có cơ sở xác định số tiền trên hai biên nhận đều thể hiện cùng một khoản tiền vay.

Do đó, cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Trần Thị L được thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2] Về yêu cầu khởi kiện: Bà Trần Thị L khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị L1, ông Phạm Văn B, bà Phạm Thị Tuyết N liên đới trả số tiền nợ vay gốc 1.850.000.000 đồng (theo giấy nợ đề ngày 09/9/2022 âm lịch) và tiền lãi tính từ ngày 09/9/2022 đến ngày 09/10/2023 theo lãi suất 0,83%/tháng thành tiền 199.615.000 đồng, không yêu cầu tính lãi từ ngày 09/10/2023 đến nay.
  3. [3] Bản án sơ thẩm tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Nguyễn Thị L1, ông Phạm Văn B, bà Phạm Thị Tuyết N đối với số tiền nợ vay gốc 1.850.000.000 đồng và tiền lãi 199.615.000 đồng. Sau khi bản án đã tuyên, nguyên đơn, bà Trần Thị L kháng cáo, các đương sự khác không kháng cáo. Nội dung kháng cáo: yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  4. [4] Tài liệu thu thập của cấp sơ thẩm: tại vụ án thụ lý số 61/2023/TLST-DS ngày 24/5/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường đối với vụ án “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn là bà Trần Thị L; bị đơn là bà Nguyễn Thị L1, ông Phạm Văn B, bà Phạm Thị Tuyết N (viết tắt là vụ án thụ lý số 61/2023/TLST-DS), tài liệu mà bà L cung cấp gồm:
    1. [4.1] Bản phô tô giấy viết tay, tiêu đề: “Biên nhận nợ tiền” ghi ngày 09/9/2022 (ngày tháng năm có sửa chữa), trên cùng có ghi hàng chữ “4/10/2022 DL”, số tiền nợ là 1.850.000.000 đồng (một tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng), có chữ ký của bà Trần Thị L, bà Nguyễn Thị L1, ông Trần Văn M (BL-96);
    2. [4.2] Bản phô tô giấy viết tay, tiêu đề: “Biên nhận tổng cộng 2 lần tiền của anh T và chị L”, không ghi ngày tháng, số tiền nợ ghi là “1850 (một tỷ tám 5 chục”), chỉ có chữ ký của bà L1 (BL-95).
    3. [4.3] Vụ án thụ lý số 61/2023/TLST-DS ngày 24/5/2023 đã được Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường giải quyết theo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 25/2023/QÐST-DS ngày 22/9/2023. Lý do đình chỉ: người khởi kiện, bà Trần Thị L đã tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Quyết định có hiệu lực pháp lực.
  5. [5] Tại vụ án này (vụ án đang giải quyết) bà L nộp cho Tòa án gồm:
    1. [5.1] Bản chính giấy viết tay, tiêu đề: “Biên nhận nợ tiền” ghi ngày 09/9/2022 (ngày tháng năm có sửa chữa), trên cùng có ghi hàng chữ “4/10/2022 DL”, số tiền nợ là 1.850.000.000 đồng (một tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng), có chữ ký của bà Trần Thị L, bà Nguyễn Thị L1, ông Trần Văn M (BL-59);
    2. [5.2] Bản chính giấy viết tay, tiêu đề: “Biên nhận tổng cộng 2 lần tiền của anh T và chị L”, không ghi ngày tháng, số tiền nợ ghi là “1850 (một tỷ tám 5 chục”), có chữ ký của bà L1, ngoài ra còn có thêm chữ ký của ông Trần Văn M (BL-68).
  6. [6] Tại phiên toà ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, bà L thừa nhận tờ “Biên nhận tổng cộng 2 lần” (bản photo) không có chữ ký của người làm chứng ông Trần Văn M cung cấp cho Toà án trong vụ án thụ lý số 61/2023/TLST-DS với tờ “Biên nhận tổng cộng 2 lần” nộp cho Toà trong vụ án này có chữ ký của người làm chứng ông Trần Văn M là cùng một bản (lý do có chữ ký người làm chứng ông M là ký sau này) (BL-143). Như vậy, có cơ sở tài liệu bà L nộp khởi kiện tại vụ án thụ lý số 61/2023/TLST-DS của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường với tài liệu bà L nộp trong vụ án này là một.
  7. [7] Về thời gian viết 2 biên nhận, tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện của nguyên đơn trình bày:
    1. [7.1] Giấy vay nợ không ghi ngày tháng với số tiền 1.850.000.000 đồng là được xác lập vào ngày 28/9/2022. Chứng minh, dựa vào tài liệu của hồ sơ vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thụ lý số 28/2023/TLST-DS ngày 22/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng đó là: Tại Bản tự khai của bà Nguyễn Thị L1 ngày 15/5/2023 và tại Biên bản ghi lời khai của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng ngày 15/5/2023 đối với bà Nguyễn Thị L1 thì bà L1 xác định: ngày 20/9/2023, bà L1 vay số tiền 650.000.000 đồng của ông Đặng Hoàng T; ngày 28/9/2022, bà L1 vay của ông T 300.000.000 đồng. Khi đó ông T là người viết biên nhận và bà L1 là người ký nhận, do bà L1 không có đọc kỹ biên nhận nên không biết là khi đó ký nhận nợ của ai, nhưng xác định có nhận số tiền 950.000.000 đồng từ ông T. Do các biên nhận nợ ông T giữ, bà L1 không có giữ nên không có gì để chứng minh thiếu nợ với ông T.
    2. [7.2] Từ đó, người đại diện của bà L cho rằng, biên nhận bà L khởi kiện là Biên nhận ghi ngày 09/9/2022, còn biên nhận không ghi ngày tháng là ghi sau ngày 09/9/2022, vì bà L1 nhận tiền của ông T theo biên nhận ngày 20/9/2022 và biên nhận ngày 28/9/2022 nên khoản nợ của biên nhận ghi “tổng cộng 2 lần tiền của anh T và chị L” là viết sau (thực tế là ngày 28/9/2022), nên không thể cho rằng đã được ghi chung vào biên nhận nhận tiền ngày 09/9/2022 là biên nhận đã ghi trước đó mà nguyên đơn đã khởi kiện trong vụ án này. Do đó, bà L1 chỉ trả nợ cho bà L 1.850.000.000 đồng đối với biên nhận không ghi ngày tháng, còn biên nhận nợ ngày 09/9/2022, bà L1 chưa trả cho bà L.
  8. [8] Xét thấy, về thời gian ghi giấy vay nợ: Tại biên bản hòa giải ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, bà L khai: “Khi viết giấy biên nhận nợ tiền ngày 04/10/2022 dương lịch (âm lịch là ngày 09/9/2022) thì chỉ có tôi và bà L1 và bà L1 nhờ ông M viết, khi đó không có Phạm Thị Tuyết N. Tuy nhiên trong khoản tiền nợ 1.850.000.000 đồng là gom của nhiều khoản nợ trước đó, trong đó có khoản nợ Tuyết N đi cùng bà L1 đến nhận tiền; mặt khác nội dung giấy mượn tiền ngày 09/9/2022 âm lịch là do bà L1 đọc cho ông M viết mới biết rõ năm sinh của Tuyết N (chứ tôi làm sao biết năm sinh) (BL-128). Như vậy, biên nhận vay tiền ngày 09/9/2022 trong vụ án này là ghi ngày âm lịch, ngày dương lịch là ngày 04/10/2022. Do đó, người đại diện của nguyên đơn trình bày giấy vay nợ không ghi ngày tháng là viết sau biên nhận ngày 09/9/2022 là không có cơ sở.
  9. [9] Như vậy, trong vụ án thụ lý số 61/2023/TLST-DS bà L yêu cầu bị đơn trả 1.850.000.000 đồng thì bà L cũng nộp cả biên nhận đề ngày 09/9/2022 và biên nhận không ghi ngày tháng. Trên cả 02 biên nhận đều thể hiện số tiền cho vay 1.850.000.000 đồng.
    1. [9.1] Tại Bản tự khai ngày 16/6/2023 của bà L khai: “Tôi có làm đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị L1 tại Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An số tiền 1.850.000.000 đồng trong đó số tiền của ông Đặng Hoàng T là 950.000.000 đồng, của tôi là 900.000.000 đồng. Theo Biên nhận ngày 09/9/2022, bà L1 là người đại diện ký tên và có mặt con gái của bà L1 là bà Lê Thị Tuyết N1 nhưng không ký tên. Bà L1 vay số tiền nêu trên với mục đích để đáo hạn ngân hàng. Do bà Nguyễn Thị L1 đồng ý nhận số tiền vay 950.000.000 đồng của ông Đặng Hoàng T. Nên tôi làm đơn này rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần tiền mà bà L1 đã vay của tôi là 950.000.000 đồng, vậy số tiền còn lại bà L1 nợ tôi là 900.000.000 đồng.” (BL-91).
    2. [9.2] Tại Biên bản làm việc ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, bà L trình bày ngoài số tiền 1.850.000.000 đồng theo biên nhận ngày 09/9/2022 (trong đó có 950.000.000 đồng của ông T, 900.000.000 đồng của bà) thì bà L1 không còn vay khoản nào khác vì các biên nhận cũ đã gom vào thành 01 biên nhận ngày 09/9/2022. Từ đó có cơ sở xác định, tuy có 2 biên nhận, mỗi biên nhận ghi nhận bà L1 có nợ bà L 1.850.000.000 đồng, nhưng thực chất là L1 chỉ có nợ bà L một khoản tiền duy nhất là 1.850.000.000 đồng.
    3. [9.3] Ngoài ra, các lời khai của bà L tự khai và do Tòa án lấy lời khai, đều được thực hiện sau ngày các biên nhận ghi nhận bà L1 nợ bà L 1.850.000.000 đồng (biên nhận ngày 09/9/2022 và biên nhận không ghi ngày tháng). Do đó, dù biên nhận không ghi ngày tháng có trước hay có sau biên nhận này 09/9/2022, thì theo lời thừa nhận của bà L thì trước sau bà L1 chỉ có nợ bà L 1.850.000.000 đồng.
    4. [9.4] Từ đó có cơ sở xác định, tuy có 2 biên nhận, mỗi biên nhận ghi nhận bà L1 có nợ bà L 1.850.000.000 đồng, nhưng thực chất là L1 chỉ có nợ bà L một khoản tiền duy nhất là 1.850.000.000 đồng.
  10. [10] Bà L1 thừa nhận có ký nhận nợ bà L 1.850.000.000 đồng theo biên nhận ngày 09/9/2022 (cũng chính là khoản nợ theo biên nhận không ghi ngày tháng), bà L1 cũng đã cung cấp chứng cứ là biên nhận giao tiền ngày 29/9/2023 (BL-119) thể hiện bà L1 đã trả cho bà L toàn bộ số tiền trên vào ngày 29/9/2023, có chữ ký của bà L, kết luận giám định của Phòng K số 234/KL-KTHS ngày 07/5/2024 của Công an tỉnh L xác định chữ ký trong biên nhận giao tiền trả nợ của bà L1 là của bà L, sau đó bà L cũng thừa nhận chữ ký của mình và không có tranh chấp gì. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu của bà L đòi số tiền nợ gốc 1.850.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh đối với bị đơn là có cơ sở. Không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
  11. [11] Do không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện cũng như yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn nên không cần thiết xem xét nghĩa vụ liên đới của ông B và cháu N1.
  12. [12] Các khoản khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
  13. [13] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại các Điều 147, 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị L.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 161, 162, 227, 228, 244, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 463, 466, 469 của Bộ luật Dân sự;

Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Nguyễn Thị L1, ông Phạm Văn B, bà Phạm Thị Tuyết N đối với số tiền nợ vay gốc 1.850.000.000 đồng và tiền lãi 199.615.000 đồng.
  2. Về chi phí tố tụng: Bà Trần Thị L phải chịu chi phí giám định là 5.500.000 đồng. Bà Trần Thị L có trách nhiệm hoàn trả số tiền này (5.500.000 đồng) cho bà Nguyễn Thị L1.

Trường hợp bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  1. Về án phí
    1. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị L có nghĩa vụ nộp án phí dân sự số tiền 72.992.000 đồng (bảy mươi hai triệu chín trăm chín mươi hai nghìn đồng). Bà L được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 36.496.000 đồng (ba mươi sáu triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0003103 ngày 18/12/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường. Bà Trần Thị L còn phải tiếp tục nộp 36.496.000 đồng (ba mươi sáu triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn đồng).
    2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003266 ngày 06/6/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An. Bà Trần Thị L đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
  2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án được quyền tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành dân sự án.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND thị xã Kiến Tường;
  • - Chi cục THADS thị xã Kiến Tường;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; AV./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Văn Uẩn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 499/2024/DS-PT ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 499/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị L "T/c hợp đồng vay tài sản" Nguyễn Thị L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger