Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 498/2024/DS-ST

Ngày: 19/7/2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay

tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phước Lý

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đỗ Thị Thu Hương

Ông Lê Đình Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đài Trang- Thư ký Tòa án nhân dân

quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 423/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 384/2024/QĐST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 251/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ; địa chỉ: A P, quận P, Tp ..

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Huỳnh Trần Lan A, sinh năm 1988; địa chỉ: D Â, phường P, quận T, Tp .; là nhân viên quản lý tín dụng của Ngân hàng (Văn bản ủy quyền ngày 08/4/2024).

2. Bị đơn: Bà Lý Mỹ H, sinh năm 1985; địa chỉ: G L, Phường 1, quận T, Tp ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/8/2023, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ và lời khai của người đại theo ủy quyền trình bày:

Căn cứ Giấy đăng ký sử dụng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ ngày 10/7/2010 kèm theo Quyết định số 1425/QĐ-DAB ngày 05/7/2010 về lãi suất cho vay bằng Việt Nam Đồng của Ngân hàng TMCP Đ và thu nhập của bà Lý Mỹ H, ngày 12/7/2010 Ngân hàng TMCP Đ đã đồng ý cấp cho bà H thẻ tín dụng tài khoản số 0103003650 có hạn mức 6.500.000đ, lãi suất trong hạn: 1,3%/tháng, lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn, mục đích vay tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà H đã thực hiện nhiều giao dịch rút tiền mặt từ tài khoản thẻ, đã thanh toán được 70.933đ tiền vốn và 300.000đ tiền lãi, tổng cộng 370.933đ. Sau thời gian sử dụng bà H không có thiện chí trả nợ, vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngày 12/7/2011, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà H và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến tháng 7 năm 2023, bà H còn nợ: 26.356.084đ, gồm: nợ gốc: 6.429.067đ, lãi trong hạn: 224.496đ, lãi quá hạn: 19.702.521đ.

Bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã lâu, không thông báo cho Ngân hàng biết về nơi cư trú mới, Ngân hàng vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ của thẻ tín dụng nêu trên; thanh toán ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật; ngoài ra, bị đơn còn phải chịu thêm tiền lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cho đến khi trả xong số nợ trên.

Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn do người đại diện theo ủy quyền bà Huỳnh Trần Lan A có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 16/7/2024 trình bày: Vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ của Giấy đề nghị sử dụng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ ngày 12/7/2010 và Quyết định số 1425/QĐ-DAB ngày 05/7/2010 về lãi suất cho vay bằng Việt Nam Đồng của Ngân hàng TMCP Đ (Gọi tắt là hợp đồng). Tính đến ngày 19/7/2024, bị đơn bà H còn nợ các khoản sau: Nợ gốc: 6.429.067đ, lãi trong hạn: 224.496đ, lãi quá hạn: 21.349.648đ, tổng cộng: 28.003.211đ. Thanh toán ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật, ngoài ra bị đơn còn phải chịu thêm tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cho đến khi trả xong nợ gốc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đều đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án đến ngày xét xử, Tòa án đã vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự; Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bị đơn có nơi cư trú tại quận T nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

[1.2] Về nơi cư trú của đương sự:

Xét Đơn khởi kiện, hợp đồng sử dụng thẻ thấu chi, nguyên đơn đã cung cấp địa chỉ cư trú của bị đơn tại số G L, Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại kết quả xác minh của Công an P, quận T đã cung cấp thông tin: Đương sự Lý Mỹ H có hộ khẩu thường trú tại địa phương, nhà đã bán thực tế không cư trú tại địa phương.

Khoản 3 Điều 40 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “3. Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới.

H đã thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo, do đó có cơ sở xác định địa chỉ G L, Phường I, quận T là nơi cư trú cuối cùng của bà H. Tòa án nhân dân đã tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng tại địa chỉ trên là phù hợp với quy định tại các điều 177 và 179 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.3] Về sự có mặt của đương sự: Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do chính đáng và không có người đại diện tham gia phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của đương sự đã được xem xét tại phiên tòa đã đủ cơ sở xác định:

Ngày 12/7/2010, Ngân hàng TMCP Đ và bà Lý Mỹ H đã ký hợp đồng sử dụng thẻ thấu chi tài khoản, hạn mức: 6.500.000đ, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất: 1,3%/tháng, lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay: 12 tháng. Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng có hình thức và nội dung phù hợp với các điều 401, 402, 405 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên có hiệu lực đối với các bên tham gia giao dịch.

Tại bản tóm tắt sao kê do Ngân hàng cung cấp thể hiện: Sau khi được cấp thẻ thấu chi tài khoản, bà H đã thực hiện nhiều giao dịch rút tiền mặt và đã thanh toán cho Ngân hàng với tổng số tiền 370.933đ, lần cuối cùng thanh toán cho Ngân hàng là ngày 11/01/2012 với số tiền 300.000đ và ngày 12/7/2011 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ gốc 6.429.067đ sang nợ quá hạn.

[2.2] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về yêu cầu trả nợ gốc và lãi:

Căn cứ hợp đồng sử dụng thẻ thấu chi tài khoản ngày 12/7/2010 và tóm tắt sao kê do Ngân hàng C đã đủ cơ sở xác định bà H đã sử dụng thẻ thấu chi tài khoản thực hiện nhiều giao dịch và vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ, chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn và yêu cầu bị đơn thanh toán tiền còn nợ và tiền lãi phát sinh là phù hợp với thỏa thuận đã quy định tại Điều 1, Điều 2, Điều 3 của Giấy đề nghị sử dụng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ ngày 12/7/2010 và Quyết định số 1425/QĐ-DAB ngày 05/7/2010 về lãi suất cho vay bằng Việt Nam Đồng của Ngân hàng TMCP Đ.

Căn cứ khoản 1, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụngđịnh: “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng”.

Căn cứ khoản 2, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng qui định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán tiền nợ gốc và tiền lãi, cụ thể: Nợ gốc: 6.429.067đ, lãi trong hạn: 224.496đ, lãi quá hạn: 21.349.648đ, tổng cộng: 28.003.211đ.

Xét việc bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán đã gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên cần buộc bị đơn thanh toán toàn bộ số nợ trên ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, bị đơn còn phải chịu thêm tiền lãi phát sinh kể từ ngày 20/7/2024 cho đến khi trả xong dứt nợ theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng.

Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bà H vắng mặt không lý do chính đáng, cũng không đưa ra phản hồi hay chứng cứ nào để chứng minh cho quan điểm của mình. Vì vậy, bà H phải chịu hậu quả pháp lý đối với sự vắng mặt của mình.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do có nghĩa vụ thanh toán nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 147; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ các điều 280; 463; 466 của Bộ luật dân sự 2015;
  • - Căn cứ vào khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ.
  2. Buộc bà Lý Mỹ H phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền còn nợ bao gồm:
    • Nợ gốc: 6.429.067đ (Sáu triệu bốn trăm hai mươi chín ngàn không trăm sáu mươi bảy đồng);
    • Nợ lãi trong hạn: 224.496đ (Hai trăm hai mươi bốn ngàn bốn trăm chín mươi sáu đồng);
    • Nợ lãi quá hạn: 21.349.648đ (Hai mươi mốt triệu ba trăm bốn mươi chín ngàn sáu trăm bốn mươi tám đồng);
    • Tổng cộng: 28.003.211đ (Hai mươi tám triệu không trăm lẻ ba ngàn hai trăm mười một đồng).

    Thanh toán ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lý Mỹ H phải chịu 1.400.161đ (Một triệu bốn trăm ngàn một trăm sáu mươi mốt đồng).
  5. H1 lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ số tiền tạm ứng án phí 658.902đ (Sáu trăm năm mươi tám ngàn chín trăm lẻ hai đồng) theo Biên lai thu số 0023777 ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  7. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết bản án.
  8. Viện kiểm sát nhân dân được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND QTB;
  • - Chi cục THADS QTB;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Phước Lý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 498/2024/DS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 498/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản NH TMCP ĐÔNG Á- Hương
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger