|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 498/2021/KDTM-ST Ngày: 19 - 11 - 2021 V/v Tranh chấp hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đặng Thị Ngọc Hằng
- Ông Nguyễn Kiên Hiển
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Sương – Kiểm sát viên.
Vào ngày 19/11/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 853/2020/TLST-KDTM ngày 02 tháng 10 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 202/2021/QĐST-KDTM ngày 28 tháng 10 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Cổ phần A (tên cũ: Công ty A)
Trụ sở: 209 Đường x, phường y, quận z, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phan Quang M (Theo Giấy ủy quyền ngày 01/12/2020); Có mặt.
Bị đơn: Công ty TNHH B.
Trụ sở: Lầu 5, Đường m, phường n, quận k, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Văn Trường (Văn bản ủy quyền số 1144/UQ-B ngày 05/3/2021); Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn yêu cầu, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phan Quang M trình bày:
Công ty Cổ phần A (tên cũ là Công ty A) (gọi tắt là Công ty A) đã ký 03 (ba) Hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản với Công ty TNHH B (gọi tắt là Công ty B) để bán đấu giá các tài sản sau:
- Hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản số 01A/03/2018/HĐDVBĐG ký ngày 07/03/2018 và Phụ lục hợp đồng lần thứ tư ký ngày 28/5/2018 giữa Công ty B và Công ty A. Ngày 15/6/2018, Công ty A đã chuyển toàn bộ số tiền đặt trước cho Công ty B. Ngày 13/8/2018, hai bên đã ký Biên bản thanh lý hợp đồng bán đấu giá tài sản và cũng trong ngày 13/8/2018 Công ty A đã xuất hóa đơn số 0000039 cho Công ty B; Thù lao dịch vụ đấu giá, chi phí đấu giá tài sản là: 64.600.000 đồng.
- Hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản số 11/11/2018/HĐDVBĐG ký ngày 21/11/2018 giữa Công ty B và Công ty A. Ngày 24/6/2019 hai bên đã ký Biên bản thanh lý hợp đồng bán đấu giá tài sản và cũng trong ngày 24/6/2019 Công ty A đã xuất hóa đơn số 0000088 cho Công ty B. Thù lao dịch vụ đấu giá, chi phí đấu giá tài sản là: 10.327.000 đồng. Công ty A đã chuyển toàn bộ số tiền trúng đấu giá cho Công ty B.
- Hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản số 05/01/2019/HĐDVBĐG ký ngày 16/01/2019 giữa Công ty B và Công ty A. Ngày 13/2/2019 hai bên đã ký Biên bản thanh lý hợp đồng bán đấu giá tài sản và cũng trong ngày 13/2/2019 Công ty A đã xuất hóa đơn số 0000079 cho Công ty B. Thù lao dịch vụ đấu giá, chi phí đấu giá tài sản là: 8.327.000 đồng. Ngày 13/02/2019, Công ty A đã chuyển toàn bộ số tiền trúng đấu giá cho Công ty B.
Nguyên đơn đã nhiều lần chuyển đề nghị thanh toán của 03 Hợp đồng nêu trên nhưng đến nay nguyên đơn vẫn chưa nhận được phản hồi từ phía bị đơn. Tổng thù lao dịch vụ đấu giá, chi phí đấu giá tài sản của 03 Hợp đồng nêu trên là: 64.600.000đ + 10.327.000 đồng + 8.327.000đ = 83.254.000 đồng.
II/- Về việc Công ty B không thanh toán chi phí tổ chức đấu giá 16 Hợp đồng bán đấu giá không thành:
Nguyên đơn liệt kê 16 hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản không thành (từ mục 1 đến mục 16) với tổng chi phí tổ chức đấu giá là 108.004.040 đồng. Căn cứ khoản 2, Điều 5 - Hợp Đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản thì: “Bên A thanh toán thù lao dịch vụ và chi phí tổ chức đấu giá cho Bên B trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày làm việc kể từ ngày Bên B xuất hóa đơn chi phí tổ chức cuộc bán đấu giá và hai bên thanh lý hợp đồng dịch vụ bán đấu giá.”
Tuy nhiên, từ ngày 09/6/2020 cho đến nay Công ty B vẫn chưa thanh toán cho Công ty A tổng số tiền chi phí thực hiện việc bán đấu giá của 16 hợp đồng nêu trên. Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 191.258.040 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án và thủ tục tố tụng: Đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3.
[2] Về nội dung vụ án: Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn về việc thanh toán thù lao và chi phí đấu giá cho 03 hợp đồng thành công và 16 hợp đồng không thành là có cơ sở, phù hợp với thỏa thuận giữa các bên và quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
I. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty Cổ phần A (tên cũ là Công ty A). Công ty TNHH B có trách nhiệm trả cho Công ty Cổ phần A tổng số tiền dịch vụ bán đấu giá là: 191.258.040 đồng.
II. Về án phí: Công ty TNHH B phải nộp án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 9.562.902 đồng. Hoàn trả cho Công ty Cổ phần A số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoa |
Bản án số 498/2021/KDTM-ST ngày 19/11/2021 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản
- Số bản án: 498/2021/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2021
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
