Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 497/2024/DS-PT

Ngày: 31/05/2024

V/v tranh chấp hợp đồng thấu chi tài khoản thẻ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Dung

  • - Các Thẩm phán: Bà Đặng Huyền Phương

    Bà Trần Thị Kim Quy

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bạch Ngọc Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 311/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 3 năm 2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng thấu chi tài khoản thẻ" .

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 107/2023/DS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1937/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 4 năm 2024 giữa:

  • • Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.

    Địa chỉ: Số A đường P, Phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền:

    • Ông Lê Trung P, sinh năm 1967. (Có mặt)

    • Ông Phạm Minh T, sinh năm 1983. (Vắng mặt)

    Cùng địa chỉ: Số E đường N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Theo giấy ủy quyền thường xuyên số 163/QĐ-DAB-HĐQT-PC ngày 08/8/2022 và quyết định số 01/QĐ-DAB-Q01 ngày 05/01/2024).

  • • Bị đơn: Bà Võ Hồng N, sinh năm 1982. (Có mặt)

    Địa chỉ: Số C đường N, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    Công ty Cổ phần S1 (Công ty U).

    Trụ sở: Số D đường H, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền:

    • Ông Võ Hoàng P1, sinh năm 2000. (Có mặt)

    • Bà Đặng Thị Ngọc L, sinh năm 1973. (Có mặt)

    Địa chỉ liên lạc: Số F đường H, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Theo Giấy ủy quyền số 868/UP-UQ ngày 22/5/2024).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Lê Thị H, Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.

  • - Người kháng cáo: Bị đơn bà Võ Hồng N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần S1 (Công ty U).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ có ông Lê Trung P là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 28 tháng 6 năm 2011, Ngân hàng TMCP Đ (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và bà Võ Hồng N có ký hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ số 128/TC-01/2011 vay hạn mức thấu chi 1.000.000.000 đồng trong thời hạn 12 tháng, lãi suất 1,95%/tháng, lãi quá hạn 1,5 lần lãi suất trong hạn. Hợp đồng có hiệu lực từ ngày 28/6/2011 đến ngày 28/6/2012. Hình thức bảo đảm thấu chi là tín chấp.

Ngay khi ký kết hợp đồng, Ngân hàng đã cấp hạn mức thấu chi 1.000.000.000 đồng cho bà N theo thỏa thuận. Ngày 28/6/2011 bà N đã rút tiền mặt từ tài khoản thẻ thấu chi do Ngân hàng cấp cho bà N. Đến ngày 28/6/2012 là ngày hết hạn hợp đồng vay nhưng bà N vẫn không trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng. Do đó ngày 07/6/2016 Ngân hàng đã khởi kiện bà N để thu hồi nợ.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu bà N trả cho Ngân hàng số tiền đã vay ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, số tiền cụ thể như sau: Gốc: 1.000.000.000 đồng, Lãi trong hạn: 217.196.125 đồng, Lãi quá hạn: 4.087.200.000 đồng. Tổng cộng: 5.304.396.125 đồng. Ngoài ra, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà N còn phải tiếp tục trả tiền lãi trên nợ gốc còn lại cho đến khi trả hết nợ gốc theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ.

Bị đơn bà Võ Hồng N trình bày:

Bà không đồng ý trả số tiền trên cho Ngân hàng, mặc dù bà có ký hợp đồng thấu chi số 128/TC-01/2011 ngày 28/6/2011 và có rút số tiền 1.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau đó thủ quỹ Công ty U đã cùng bà N đến Ngân hàng lấy tiền mang về Công ty (Công ty có viết phiếu thu cùng ngày 28/6/2011) cho bà. Thực tế bà vay tín chấp giúp Công ty U, Công ty U có cam kết bảo lãnh cho bà vay tín chấp tại Ngân hàng. Do đó, Công ty U phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần S1 (Công ty U) có ông Võ Hồng P2 là người đại diện theo ủy quyền tại bản tự khai ngày 19/12/2023 trình bày:

Đề nghị Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án do thời hiệu khởi kiện đã hết theo quy định tại Điều 159 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 427 Bộ luật dân sự năm 2005. Phía Công ty có đơn đề nghị được xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

  • - Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

  • - Bị đơn bà Võ Hồng N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa bà N vẫn giữ yêu cầu theo nội dung đơn gửi qua bưu điện ngày 08/12/2023, theo đó, bà N yêu cầu độc lập đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ quan là Công ty U. Bà N yêu cầu Công ty U có nghĩa vụ trả khoản nợ gốc và lãi phát sinh của Hợp đồng thấu chi tài khoản thẻ số 128/TC-01/2011 ngày 28/6/2011 cho Ngân hàng Đ. Trường hợp Tòa án buộc bà phải trả nợ cho Ngân hàng thì yêu cầu Công ty U hoàn trả cho bà toàn bộ số tiền nợ gốc 1.000.000.000 đồng và lãi phát sinh đối với khoản vay thấu chi theo Hợp đồng thấu chi tài khoản thẻ số: 128/TC-01/2011 ngày 28/6/2011 mà bà phải đứng ra trả nợ cho Ngân hàng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 107/2023/DS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh đã:

  • Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 267, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

  • Căn cứ Điều 357, 468, 688 Bộ luật Dân sự 2015;

  • Căn cứ Điều 91, 95 Luật Tổ chức tín dụng;

  • Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

  • Căn cứ Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

  • Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.

    Bà Võ Hồng N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền là: 5.304.396.125 đồng (Năm tỷ ba trăm lẻ bốn triệu ba trăm chín mươi sáu ngàn một trăm hai mươi lăm đồng); trong đó bao gồm dư nợ gốc là: 1.000.000.000 đồng; lãi trong hạn là: 217.196.125 đồng; lãi quá hạn: 4.087.200.000 đồng. Trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Tiền lãi sẽ tiếp tục tính kể từ ngày 21/12/2023 (ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm) trên nợ gốc còn lại cho đến khi trả hết nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ số: 128/TC-01/2011 ngày 28/6/2011.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.

Sau đó, bị đơn bà Võ Hồng N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần S1 (Công ty U) kháng cáo bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn bà Võ Hồng N trình bày:

Bà đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc Công ty U phải trả khoản nợ vay cho Ngân hàng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần S1 (Công ty U) có ông Võ Hồng P2, bà Đặng Thị Ngọc L là người đại diện theo ủy quyền cùng Luật sư Lê Thị H là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty trình bày:

Đề nghị đình chỉ giải quyết vụ án do thời hiệu khởi kiện đã hết. Bà N không cung cấp được chứng cứ thể hiện việc bà đã nộp số tiền vay từ Ngân hàng Đ cho Công ty U nên Công ty không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bà N về việc buộc Công ty U phải trả khoản nợ vay cho Ngân hàng.

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ có ông Lê Trung P là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đảm bảo cho các đương sự có các quyền và nghĩa vụ theo quy định; gửi các Quyết định, Thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự đầy đủ, đúng thời hạn. Hội đồng xét xử đúng thành phần, phiên tòa diễn ra theo đúng trình tự và quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  • [1] Ngày 28 tháng 6 năm 2011, Ngân hàng TMCP Đ và bà Võ Hồng N ký hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ số 128/TC-01/2011 vay hạn mức thấu chi 1.000.000.000 đồng trong hạn 12 tháng, lãi suất 1,95%/tháng, lãi quá hạn 1,5 lần lãi suất trong hạn. Hợp đồng có hiệu lực từ ngày 28/6/2011 đến ngày 28/6/2012. Hình thức bảo đảm thấu chi là tín chấp.

    Ngày 25/5/2016 Ngân hàng có đơn khởi kiện bà N tranh chấp hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ, yêu cầu bà N phải trả nợ gốc và lãi.

    Ngày 23/8/2016 bà N có Đơn đề nghị áp dụng thời hiệu khởi kiện để đình chỉ giải quyết vụ án.

    Tòa án cấp sơ thẩm nhận định vào ngày 28/11/2015 Ngân hàng và bà N có lập biên bản làm việc xác định lại số nợ bà N còn nợ Ngân hàng nên thời hiệu khởi kiện được tính lại từ ngày 28/01/2015.

    Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại Biên bản làm việc ngày 28/11/2015 của Ngân hàng Đ với bà N về việc xác định tình hình dư nợ vay thấu chi tài khoản thẻ của bà N tại Ngân hàng, bà N luôn xác định bà chỉ đứng ra vay hộ cho Công ty U, bà không có hồ sơ liên quan đến khoản vay, bà không chấp nhận trả khoản vay này tại Ngân hàng. Như vậy, tại biên bản ngày 28/11/2015, bà N không thừa nhận hay thống nhất số nợ với Ngân hàng; bà N không đồng ý trả khoản vay cho Ngân hàng; các bên cũng không tự hòa giải với nhau. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 157 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì đây không phải trường hợp để xác định bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự.

    Theo tinh thần của Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì: Đối với tranh chấp dân sự phát sinh từ hợp đồng vay tài sản, khi đã hết thời hiệu khởi kiện, đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi thì Tòa án không giải quyết; còn đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền gốc thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện, Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục chung (tranh chấp về đòi tài sản).

  • [2] Trong suốt quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bà N đều trình bày: Bắt đầu từ ngày 27/6/2010, theo đề xuất của ông Trương V là Tổng giám đốc và ông Chu Ngọc S là Kế toán trưởng của Công ty U, bà N cùng một số nhân viên khác bắt đầu đứng ra vay tiền dùm cho Công ty U tại Ngân hàng Đ theo hình thức thấu chi tài khoản thẻ; mỗi người đứng vay 1.000.000.000 đồng, thời hạn là 01 năm. Bà N cùng các nhân viên khác chỉ ký hoàn tất thủ tục trên giấy tờ, còn toàn bộ số tiền rút ra từ Ngân hàng đều được bà giao lại cho Công ty U. Sau đó số tiền này được Thủ quỹ làm thủ tục và nộp lại Ngân hàng Đ để trả các khoản nợ của Công ty tại Ngân hàng. Hợp đồng dịch vụ thấu chi tài khoản thẻ đầu tiên mà bà ký với Ngân hàng Đ để vay hộ cho Công ty U có thời hạn từ ngày 27/6/2010 đến ngày 27/6/2011. Khi đến ngày đáo hạn hợp đồng 27/6/2011, Công ty U tự nộp tiền vào tài khoản của bà N để trả nợ gốc và lãi, tất toán hợp đồng với Ngân hàng. Sau đó, vào ngày 28/6/2011, Công ty U lại nhờ bà N cùng các nhân viên khác ký lại hợp đồng mới với thời hạn từ ngày 28/6/2011 đến ngày 28/6/2012 để vay tiếp số tiền 1.000.000.000 đồng. Bà N tiếp tục ký hoàn tất thủ tục trên giấy tờ cho Ngân hàng, rút tiền và nộp lại cho Công ty U.

    Chứng cứ mà bà N cung cấp cho Tòa án là:

    • - Phiếu thu ngày 28/6/2011 thể hiện Công ty U đã thu tiền của bà N số tiền 1.000.000.000 đồng (bản photocopy).

    • - Bảng xác nhận ngày 26/12/2012 của Tổng giám đốc Công ty U là ông Trương V có nội dung xác định các CB-CNV đã đứng ra vay thấu chi giùm và đã nộp số tiền vay này về Công ty, trong đó bà N đã vay theo HĐTD số 128/TC-01/11 ngày 28/6/2011 với số tiền 1.000.000.000 đồng. Bảng xác nhận được ông Trương V ký tên, đóng dấu của Công ty (sao y bản chính).

    • - Một văn bản ngày 22/3/2013 do ông Chu Ngọc S lập, ký tên gửi đến Hội đồng quản trị Công ty U, Ban Kiểm soát Công ty U để báo cáo nhanh tình hình tài chính Công ty. Trong đó có nội dung: “Nợ của cán bộ công nhân viên Công ty vay tiền dùm cho Công ty sử dụng, làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và hạnh phúc gia đình của họ... Số nợ này phần lớn nằm ở Ngân hàng Đ và Nông nghiệp..." (bản photocopy).

    • - Một bản thống kê các khoản thu chi của Công ty U trong khoảng thời gian từ ngày 24/6/2011 đến ngày 28/6/2011, đánh dấu bút lục 6664, 6667. Bà N trình bày bà chụp được từ hồ sơ vụ án hình sự xét xử ông Trương V, bản thống kê này do Cơ quan Cảnh sát điều tra lập. Bản thống kê thu chi thể hiện: ngày 27/6/2011 Công ty chi ứng tiền cho bà N hai khoản tiền là 1.000.000.000 đồng và 173.335.209 đồng và ngày 28/6/2011 Công ty thu của bà N số tiền 1.000.000.000 tỷ đồng (bản photocopy).

    • - Bản sao kê chi tiết tài khoản của bà N do Ngân hàng cung cấp thể hiện: Vào ngày 27/6/2011 có giao dịch nộp tiền mặt vào tài khoản bà N số tiền 1.173.355.209 đồng. Sau đó vào ngày 28/6/2011 bà N có giao dịch rút tiền mặt từ tài khoản số tiền 1.000.000.000 đồng.

    Qua đối chiếu thì số tiền mà Công ty chi cho bà N vào ngày 27/6/2011 trùng khớp với số tiền mà bà N nộp cho Ngân hàng để tất toán khoản vay đến hạn là 1.173.355.209 đồng.

    Hiện nay, Công ty U không thừa nhận việc có nhờ bà N đứng ra vay tiền dùm Công ty; Công ty cho rằng Bảng xác nhận mà ông Trương Vui 1 vào ngày 26/12/2012 với nội dung thừa nhận việc bà N vay tiền dùm cho Công ty là giả tạo, có nội dung không đúng sự thật. Trong thời gian giữ chức vụ, ông V đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để sử dụng con dấu của Công ty xác nhận vào các văn bản có nội dung không đúng sự thật. Do có nhiều sai phạm nên ông V đã bị xử lý hình sự. Công ty U cũng xác định tại thời điểm năm 2011, bà N là nhân viên của Công ty U.

    Trong quá trình giải quyết vụ án, bà N nhiều lần yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm đưa ông Trương V vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; triệu tập ông Chu Ngọc S để lấy lời khai, xác minh việc Công ty U có nhờ nhân viên vay tiền hộ tại Ngân hàng Đ hay không; thu thập các tài liệu, chứng cứ mà bà N không thể cung cấp bản chính cho Tòa án được đồng thời bà N yêu cầu Công ty U phải có trách nhiệm trả lại số tiền cho Ngân hàng.

    Hội đồng xét xử nhận thấy, theo các tài liệu do bà N cung cấp, có nội dung thể hiện sau khi bà N nhận số tiền 1.000.000.000 đồng vay của Ngân hàng Đ đã giao nộp về cho Công ty U. Hiện nay, Công ty U có lời trình bày số tiền này trên thực tế không nộp vào tài khoản Công ty mà do ông Trương V, khi đó là Tổng giám đốc Công ty, tự nhận bằng tiền mặt. Ông V tự thu chi số tiền này; đây là trách nhiệm của cá nhân ông V, không liên quan đến Công ty U. Như vậy, việc đưa ông Trương V vào tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là cần thiết; cũng như cần thiết triệu tập ông Chu Ngọc S tham gia vụ án để đối chất, làm rõ việc vay hộ.

  • [3] Ngoài ra, vào ngày 07/12/2023, bà N có đơn yêu cầu độc lập đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty U, theo đó bà N yêu cầu trong trường hợp Tòa án buộc bà N trả tiền cho Ngân hàng thì Công ty U phải trả lại số tiền này cho bà.

    Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận đơn yêu cầu độc lập của bà N với lý do đơn của bà N nộp sau khi Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

    Hội đồng xét xử nhận thấy, Tòa án cấp sơ thẩm mở phiên hòa giải cuối cùng vào ngày 12/5/2022; mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cuối cùng vào ngày 02/3/2021. Sau đó, đến ngày 11/11/2023 Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 04/12/2023.

    Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cách ngày ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử hơn 02 năm 08 tháng; Mở phiên hòa giải cuối cùng cách ngày ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử 01 năm 06 tháng. Tại phiên họp công khai chứng cứ ngày 02/3/2021, thành phần đương sự chỉ có Ngân hàng và bà N, lúc này Tòa án cấp sơ thẩm chưa đưa Công ty U tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

    Trong khoảng thời gian hơn 02 năm 08 tháng, Tòa án cấp sơ thẩm đã đưa Công ty U tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; các đương sự đã cung cấp rất nhiều tài liệu, chứng cứ mới nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ lại.

    Toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, dù bà N đều xác định bà chỉ vay hộ cho Công ty U, Công ty U phải có trách nhiệm trả khoản vay cho Ngân hàng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành giải thích cũng như thông báo cho bà N về việc cần phải có đơn yêu cầu độc lập với Công ty U.

  • [4] Từ những phân tích nêu trên, nhận thấy về thủ tục tố tụng cũng như việc thu thập chứng cứ chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được. Do đó, Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

  • [5] Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

  1. Hủy bản án sơ thẩm số 107/2023/DS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 3 về việc “Tranh chấp hợp đồng thấu chi tài khoản thẻ".

    Chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại theo quy định pháp luật.

  2. Án phí dân sự phúc thẩm:

    Hoàn trả cho bà Võ Hồng N số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0002483 ngày 11/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Hoàn trả cho Công ty Cổ phần S1 số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009005 ngày 16/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;

  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh;

  • - Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh;

  • - Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;

  • - Cục Thi hành án dân sự TP.Hồ Chí Minh;

  • - Tòa án nhân dân Quận 3;

  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3;

  • - Đương sự;

  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Kim Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 497/2024/DS-PT ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thấu chi tài khoản thẻ

  • Số bản án: 497/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thấu chi tài khoản thẻ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hợp đồng thấu chi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger