Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 497/2025/HS-PT

Ngày: 19/11/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

— Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hải.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vũ Đông;
Ông Điều Văn Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Xuân Thành, Thư ký Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng V, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 19 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 402/2025/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Mai C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 535/2025/HS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

* Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Mai C, sinh ngày 19/8/1997; Giới tính: Nữ; ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn L, xã D, huyện Đ, thành phố Hà Nội (nay là thôn L, xã Đ, thành phố Hà Nội); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn G, sinh năm 1968; Họ và tên mẹ: Trần Thị H, sinh năm 1975; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Họ và tên chồng: Trần Tuấn S sinh năm 1989 (đã chết); Có 02 con (con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 21/10/2024 đến ngày 13/3/2025 hủy bỏ biện pháp tạm giam. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Mai C: Luật sư Nguyễn Thị M và Doãn Thị T - Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị hại không có kháng cáo, không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong các ngày 28/8/2023, 05/9/2023 và ngày 22/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ nhận được đơn của chị Phạm Thị Ngọc L, sinh năm 1997 (trú tại: Thôn P, xã D, huyện Đ, Hà Nội); chị Nguyễn Thị Thanh V1, sinh năm 1998 (trú tại: Xóm V, xã C, huyện Đ, Hà Nội); chị Trương Thị Khánh N, sinh năm 1997 (trú tại: Tổ B thị trấn Đ, huyện Đ, Hà Nội) cùng tố cáo Nguyễn Mai C có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua việc mua trái phiếu. Quá trình điều tra xác định:

Từ tháng 5/2020 đến tháng 8/2022, Nguyễn Mai C là nhân viên Ngân hàng Thương mại Cổ phần H2 (viết tắt là M1) - chi nhánh L3, quận Đ, Hà Nội, với chức năng, nhiệm vụ là chuyên viên bán hàng qua điện thoại miền Bắc; Nguyễn Mai C không được giao nhiệm vụ trong việc mua, bán trái phiếu của Công ty B (gọi tắt là Công ty B) gửi tại Ngân hàng M1. Khoảng năm 2021, để có tiền chi tiêu cá nhân, Nguyễn Mai C đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của khách hàng, C đã tư vấn cho khách hàng về lợi ích trong việc gửi tiết kiệm dưới hình thức mua trái phiếu của công ty B. Khi nhận được tiền, C đã làm giả hợp đồng trái phiếu bằng cách tự soạn thảo nội dung theo hợp đồng có sẵn, chèn ảnh con dấu của công ty (hình dấu photocopy) và giao cho khách hàng nhằm tạo lòng tin để chiếm đoạt tiền. Với thủ đoạn trên, trong thời gian từ tháng 3/2021 đến tháng 02/2023, Nguyễn Mai C đã chiếm đoạt của 03 người bị hại với tổng số tiền là 1.270.000.000 đồng. Hành vi phạm tội của Nguyễn Mai C cụ thể như sau:

  1. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt 260.000.000 đồng của chị Phạm Thị Ngọc L:

    Khoảng đầu năm 2021, thông qua mối quan hệ xã hội, chị Phạm Thị Ngọc L quen biết với Nguyễn Mai C. Qua nhiều lần nói chuyện, C giới thiệu với chị L, C là nhân viên Ngân hàng M1 - Chi nhánh 88 L, quận Đ, Hà Nội; hiện Ngân hàng M1 đang phát hành trái phiếu, nếu chị L gửi tiết kiệm dưới hình thức mua trái phiếu sẽ được lãi suất cao từ 8,5%/năm đến 9%/năm. Chị L đồng ý và bảo C làm hồ sơ mua 02 trái phiếu giá 100.000.000 đồng/trái phiếu, với tổng số tiền là 200.000.000 đồng. Do không đủ tiền nên chị L đề nghị C cho chuyển tiền nhiều lần, C đồng ý. Trong thời gian từ ngày 16/3/2021 đến ngày 30/7/2022, chị L đã chuyển từ tài khoản số 19034810126011 của chị L mở tại Ngân hàng T3 đến tài khoản của Nguyễn Mai C, tổng số là 200.000.000 đồng, cụ thể:

    • - Ngày 16/3/2021, chị L chuyển 30.000.000 đồng đến tài khoản số [...] mang tên Nguyễn Mai C mở tại Ngân hàng V2.
    • - Ngày 08/4/2021, chị L chuyển 20.000.000 đồng đến tài khoản số 6819081997 mang tên Nguyễn Mai C mở tại Ngân hàng V2.
    • - Ngày 24/6/2021, chị L chuyển 6.000.000 đồng đến tài khoản số [...] mang tên Nguyễn Mai C mở tại Ngân hàng V2.
    • - Ngày 28/6/2021, chị L chuyển 144.000.000 đồng đến tài khoản số 03168010078888 mang tên Nguyễn Mai C mở tại Ngân hàng M1.

    Sau khi nhận đủ 200 triệu đồng của chị L, C đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Lo sợ chị L phát hiện, nên ngày 16/3/2021 C tự bỏ tiền cá nhân trả cho chị L 18.000.000 đồng tiền lãi theo thỏa thuận. Sau khi nhận được tiền lãi, chị L yêu cầu C giao lại hợp đồng mua trái phiếu, do không có hợp đồng để giao cho chị L nên C truy cập vào mạng xã hội, chụp ảnh hợp đồng “Đề nghị giới thiệu khách hàng nhận chuyển nhượng” trái phiếu mã HNV09.L.20.27.157 và sử dụng máy tính cá nhân đánh máy điền thông tin của chị L và sửa ngày mua trái phiếu, ngày phát hành trái phiếu, sau đó chèn ảnh có hình dấu của Công ty Cổ phần B và in ra 01 bản, C dựa vào mẫu chữ ký, chữ viết của chị L trong các hợp đồng ủy nhiệm chi mà chị L ký trước đó tại Ngân hàng; sử dụng điện thoại cá nhân chụp lại hình ảnh chữ ký, chữ viết của chị L gửi vào gmail của C, sau đó copy lại và S1 vào hợp đồng, in ra giao cho chị L.

    Đến tháng 7/2022, C thông báo với chị L, C đang thiếu chỉ tiêu gửi tiết kiệm và đề nghị chị L cùng chung góp tiền với C để mua 01 trái phiếu trị giá 100.000.000 đồng với lãi suất 8,2%/năm, C hứa hẹn sau 01 năm sẽ rút được tiền gốc và tiền lãi. Tin C nên chị L đồng ý.

    • - Ngày 21/7/2022, chị L chuyển 5.000.000 đồng đến tài khoản số 03168010078888 mang tên Nguyễn Mai C mở tại Ngân hàng M1.
    • - Ngày 30/7/2022, chị L chuyển 55.000.000 đồng đến tài khoản số [...] mang tên Nguyễn Mai C mở tại Ngân hàng V2.

    Đến ngày 28/6/2023 là thời hạn rút tiền gốc của khoản mua trái phiếu 200.000.000 đồng, chị L đề nghị C rút tiền về. Do đã chi tiêu hết số tiền của chị L, C tiếp tục nói dối chị L, C cần chỉ tiêu để được tăng lương lên 12 triệu đồng nên C đã tự sử dụng tiền của chị L gửi vào Ngân hàng thời hạn thêm 01 tháng, tiền lãi là 19.800.000 đồng. Chị L nghi ngờ nên đã đến Ngân hàng M1 tìm hiểu và được biết hợp đồng C đưa cho chị L là giả, chị L không có khoản tiền tiết kiệm dưới hình thức mua trái phiếu tại Ngân hàng. Sau đó, chị L nhiều lần đòi tiền nhưng C không trả. Ngày 31/7/2023, C viết cho chị L một bản tường trình và vay nợ, C thừa nhận việc đã sử dụng tiền của chị L vào mục đích cá nhân, hứa hẹn đến ngày 30/8/2023 C sẽ trả cho chị L. Đến ngày 28/8/2023, chị L làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của C đến Công an huyện Đ.

    Tại Bản kết luận giám định số 854 ngày 21/01/2025 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Chữ viết phần nội dung trên mẫu cần giám định là bản tường trình và vay nợ ngày 31/7/2023 là chữ viết của Nguyễn Mai C.

    Sao kê các tài khoản của Nguyễn Mai C thể hiện số tiền C đã nhận của chị L phù hợp với nội dung vụ án.

    Hiện gia đình C đã hoàn trả tiền gốc và tiền lãi cho chị L, chị L không đề nghị về bồi thường dân sự.

  2. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 210.000.000 đồng của chị Trương Thị Khánh N:

    Khoảng đầu năm 2021, thông qua mối quan hệ xã hội, chị Trương Thị Khánh N quen biết Nguyễn Mai C. Qua nói chuyện, C giới thiệu với chị N, C đang là nhân viên Ngân hàng M1 - Chi nhánh H3 L, quận Đ, Hà Nội. Đến tháng 02/2021, C nói với chị N Ngân hàng nơi Chi công tác đang có chương trình khuyến mại với lãi suất 8,1%/năm dành cho những người gửi tiết kiệm với số tiền từ 100.000.000 đồng trở lên dưới hình thức mua trái phiếu thông qua nhân viên làm việc tại Ngân hàng; nếu chị N có nhu cầu gửi tiết kiệm vào tài khoản cá nhân số [...] mang tên C mở tại Ngân hàng V2 để C gửi vào Ngân hàng mua trái phiếu hộ. Tin C nên chị N đồng ý. Ngày 19/3/2021, chị N đã 03 lần chuyển khoản với tổng số tiền là 210.000.00 đồng từ tài khoản số 19032943578011 của chị N mở tại Ngân hàng T3 và tài khoản số 0961000036195 của chị N mở tại Ngân hàng V3 đến số tài khoản trên của C. Chị N yêu cầu C chuyển giấy tờ liên quan đến việc gửi tiết kiệm. Sau khi nhận tiền của chị N, C sử dụng vào mục đích cá nhân hết, để tránh bị chị N phát hiện, C đến quán P (không xác định được địa chỉ cụ thể) trên địa bàn phường L, quận Đ, Hà Nội và tự soạn thảo hợp đồng “Đề nghị giới thiệu khách hàng nhận chuyển nhượng” trái phiếu mã HNV09.L.20.20.157 và chèn hình ảnh dấu công ty CP B và phô tô đưa lại cho chị N ký xác nhận vào hợp đồng. Đến ngày 20/3/2022, do chị N không nhận được tiền lãi, chị N liên hệ hỏi C. Chi nói dối chị N về việc Ngân hàng M1 đã tăng lãi suất lên 10,5%/năm, nếu chị N đồng ý C sẽ làm thủ tục gia hạn cả tiền gốc và tiền lãi. Tin tưởng C nên chị N đồng ý để C gia hạn. Đến ngày 19/3/2023, chị N đề nghị C tất toán toàn bộ số tiền trên, do C đã sử dụng hết số tiền của chị N nên tiếp tục nói dối và giới thiệu với chị N về việc hiện Ngân hàng đang có chương trình nếu gia hạn thêm 68 ngày, ngoài lãi suất được hưởng là 9,5%/tháng sẽ được hưởng thêm tiền hoa hồng là 680.000 đồng, mục đích để C kéo dài thời gian lo tiền trả cho chị N. Gần đến hạn chị N hỏi và C lại đưa ra thông tin thời gian gia hạn là 168 ngày, không phải là 68 ngày như C đã giới thiệu. Đồng thời, C chuyển cho chị N số tiền 1.360.000 đồng với nội dung “HOAN TIEN 68 NGAY LOC PHAT” và thông báo đó là tiền Ngân hàng thưởng cho chị N. Ngày 28/6/2023, chị N nhiều lần yêu cầu C giao lại các hợp đồng gốc liên quan đến khoản gửi tiết kiệm nhưng C khất lần. Nghi bị C chiếm đoạt số tiền trên, chị N tìm gặp và C thừa nhận đã sử dụng tiền của chị N vào mục đích cá nhân. Đồng thời, C viết cho chị N 01 bản tường trình có nội dung đã nhận số tiền 210 triệu đồng của chị N, cam đoan sẽ trả cả tiền gốc và tiền lãi cho chị N vào ngày 06/9/2023. Do C không trả tiền, ngày 22/10/2023 chị N gửi đơn tố cáo hành vi của C đến Công an huyện Đ.

    Tại Bản kết luận giám định số 854 ngày 21/01/2025 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Chữ viết phần nội dung trên mẫu cần giám định là bản tường trình ngày 26/7/2023 là chữ viết của Nguyễn Mai C. Sao kê các tài khoản của Nguyễn Mai C thể hiện số tiền C đã nhận của chị N phù hợp với nội dung vụ án.

    Về trách nhiệm bồ thường dân sự: Hiện nay gia đình C đã khắc phục trả cho chị N toàn bộ số tiền gốc là 210 triệu đồng và tiền lãi là 27.170.000 đồng. Chị N yêu cầu Chi trả 30 triệu đồng tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận.

  3. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 800.000.000 đồng của chị Nguyễn Thanh V1:

    Thông qua mối quan hệ xã hội, khoảng tháng 9/2022 chị Nguyễn Thanh V1 quen biết Nguyễn Mai C. Cũng với phương thức và thủ đoạn như trên, chị V1 được C giới thiệu, C là nhân viên Ngân hàng M1 - Chi nhánh 88 L, quận Đ, Hà Nội; hiện Ngân hàng đang phát hành trái phiếu; nếu gửi tiết kiệm dưới hình thức mua trái phiếu của Ngân hàng M1 sẽ được hưởng lãi suất từ 8,3%/năm đến 8,5%/năm; do thời điểm cuối năm cần phải “chạy” chỉ tiêu, nếu chị V1 gửi sẽ chuyển tiền cho C để C gửi Ngân hàng; nếu gửi tiết kiệm trên 500 triệu đồng sẽ được nhận quà là 01 chỉ vàng 9999, chị V1 đồng ý. Do không đủ tiền nên chị V1 đề nghị với C sẽ gửi nhiều đợt và thống nhất sẽ gửi trước 250.000.000 đồng, kỳ hạn 03 tháng. Từ ngày 10/10/2022 đến ngày 05/12/2022, chị V1 chuyển tổng số tiền là 500 triệu đồng từ tài khoản số 19037777386011 mang tên Lê Thị T1 (là mẹ đẻ của chị V1) mở tại Ngân hàng T3 chuyển đến tài khoản số 03168010078888 mang tên Nguyễn Mai C mở tại Ngân hàng MSB nội dung “Le Thi T2 chuyen tien”. Ngày 20/02/2023, chị V1 chuyển 300.000.000 đồng tiền mặt cho C nhưng không có giấy tờ biên nhận. Toàn bộ số tiền này là của cá nhân chị V1.

    Sau khi nhận tiền của chị V1, C không làm hồ sơ gửi tiết kiệm cho chị V1 mà sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Để tránh bị phát hiện, hàng tháng C tự bỏ tiền để trả lãi cho chị V1 theo thỏa thuận. Khoảng cuối tháng 01/2023 và tháng 02/2023, C đến hiệu vàng Dũng H1 tại địa chỉ Tổ D thị trấn Đ, huyện Đ, Hà Nội mua 1,5 chỉ vàng 9999 giao cho chị V1 và nói dối là quà của Ngân hàng tri ân khách hàng, chị V1 yêu cầu C giao hợp đồng mua bán trái phiếu. C đã đến quán P (không nhớ địa chỉ) tự soạn thảo Hợp đồng “Đề nghị giới thiệu khách hàng chuyển nhượng” trái phiếu mã HNV09.L20.26.157, đồng thời chèn hình ảnh dấu công ty CP B in ra 01 bản, tự ký tên chị V1 vào phần khách hàng và phô tô gửi cho chị V1. Do C giao cho chị V1 bản hợp đồng phô tô nên chị V1 nghi ngờ, gọi điện thoại đến Ngân hàng M1 chi nhánh L3 và được biết không có sổ tiết kiệm mang tên chị V1 mở tại Ngân hàng, Ngân hàng không có nhân viên tên là C. Ngày 29/8/2023, chị V1 gửi đơn đến Công an huyện Đ tố giác hành vi của Nguyễn Mai C. Trong thời gian từ ngày 13/3/2023 đến ngày 18/4/2025, C đã khắc phục trả cho chị V1 số tiền gốc và tiền lãi là 800.000.000 đồng. Chị V1 yêu cầu C phải trả cho chị V1 số tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận ban đầu còn thiếu là 66.000.000 đồng.

    Sao kê các tài khoản của Nguyễn Mai C thể hiện số tiền C đã nhận của chị V1 qua tài khoản của bà Lê Thị T1 phù hợp với nội dung vụ án.

Xác minh tại Ngân hàng TMCP H2 (M1) Phòng G1 xác định: Nguyễn Mai C bắt đầu làm việc tại Ngân hàng từ ngày 12/5/2020 và chấm dứt ngày 12/8/2022 với vị trí công việc: Chuyên viên bán hàng qua điện thoại Miền Bắc; MSB là đại lý đăng ký, lưu ký và chuyển nhượng trái phiếu cho mã HNV09.L.20.27.157. Trên hệ thống lưu ký của MSB không có thông tin lưu ký trái phiếu của cá nhân Phạm Thị Ngọc L; Trên hệ thống lưu ký của MSB không có trái phiếu HNV09.L.20.20.157; HNV09.L.20.26.157; Từ ngày 01/10/2022 đến ngày 30/01/2022 M1 không có chương trình tặng quà là 01 chỉ vàng 9999 cho khách hàng gửi tiết kiệm dưới hình thức mua trái phiếu với số tiền 500.000.000 đồng.

Xác minh tại công ty B và Công ty CP B1 xác định: Hai công ty không ban hành các văn bản là hợp đồng mua bán trái phiếu và đề nghị giới thiệu khách hàng chuyển nhượng với các khách hàng Nguyễn Thanh V1, Trương Thị Khánh N và Phạm Thị Ngọc L.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Mai C khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án, C khai: Mặc dù không có chức năng và không được giao nhiệm vụ, quyền hạn trong việc mua bán trái phiếu tại ngân hàng M1. Do cần tiền để sử dụng vào mục đích cá nhân, C đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của các bị hại thông qua việc C tự giới thiệu bản thân là nhân viên ngân hàng; C có thể mua được các trái phiếu với lãi suất cao là 8,5%/năm để các bị hại tin tưởng giao tiền, sau khi nhận được tiền, C đã chiếm đoạt sử dụng cá nhân hết mà không thực hiện như hứa hạn. Đối với 1,5 chỉ vàng 9999 mà C đã bỏ tiền mua để đưa cho chị V1, C xác định đây là thủ đoạn của C nhằm che đậy hành vi và để chị V1 tin tưởng nên C không yêu cầu đề nghị nhận lại.

Ngoài ra, Nguyễn Mai C còn có hành vi tự làm giả các Hợp đồng mua bán trái phiếu và đề nghị giới thiệu khách hàng chuyển nhượng của Công ty CP B và Công ty CP B1 với các khách hàng Nguyễn Thanh V1, Trương Thị Khánh N và Phạm Thị Ngọc L. Quá trình điều tra xác định: C tự soạn thảo theo hợp đồng có sẵn trên mạng Internet, chèn hình ảnh con dấu của Công ty (dấu photocopy) và giao cho các bị hại để tạo lòng tin với mục đích chiếm đoạt tiền. Cơ quan điều tra không thu giữ được các bản gốc mà là tài liệu photocopy, nên xác định đây là thủ đoạn gian dối của C sau khi đã nhận được tiền của khách hàng. Hành vi này của Nguyễn Mai C không cấu thành tội Làm giả, sử dụng con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 535/2025/HS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mai C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mai C 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án phạt tù, được trừ ngày tạm giữ từ 21/10/2024 đến ngày 13/3/2025.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 13/8/2025, bị cáo Nguyễn Mai C có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Mai C thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã quy kết.

Luật sư Nguyễn Thị M và luật sư Doãn Thị T là người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Mai C vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội có quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Mai C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo C 08 năm 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Mai C xuất trình đơn xin giảm nhẹ hình phạt của những người bị hại là chị Phạm Thị Ngọc L, Trương Thị Khánh N, Nguyễn Thanh V1; Đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng bị cáo đã chết, hiện bị cáo đang phải nuôi con nhỏ; trong quá trình công tác bị cáo được Ngân hàng TMCP H2 tặng Giấy khen; con bị cáo là cháu Trần Tú A đạt giải nhất trong hội thi “Rung chuông vàng”. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng cho bị cáo. Căn cứ Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm một phần hình phạt cho bị cáo từ 06 tháng đến 01 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2]. Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Mai C được gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[1.3]. Tại phiên tòa phúc thẩm, luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Mai C vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị cáo Nguyễn Mai C đồng ý việc vắng mặt của luật sư và tự thực hiện quyền bào chữa của mình. Căn cứ khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

[2]. Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Mai C thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, lời khai của những người bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, cũng như đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; có đủ cơ sở kết luận:

Nguyễn Mai C không có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong việc mua, bán trái phiếu của Công ty B gửi tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần H2 (viết tắt là M1) - Chi nhánh L3, quận Đ, Hà Nội, nhưng để có tiền chi tiêu cá nhân, C đã đưa ra thông tin gian dối giới thiệu các thông tin với khách hàng là Ngân hàng có các chính sách ưu đãi với lãi suất cao khi gửi tiết kiệm bằng hình thức mua trái phiếu thông qua tài khoản của cá nhân C. Do tin tưởng các thông tin C giới thiệu, khách hàng đã chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của C và bị C chiếm đoạt. Để tránh bị phát hiện, C đã tự soạn thảo theo hợp đồng có sẵn trên mạng Internet, chèn hình ảnh con dấu của Công ty ban hành trái phiếu và giao cho bị hại để bị hại tin. Với thủ đoạn nêu trên, trong thời gian từ tháng 10/2020 đến tháng 02/2023, Nguyễn Mai C đã lừa đảo chiếm đoạt của 03 người bị hại là chị Phạm Thị Ngọc L, chị Trương Thị Khánh N và chị Nguyễn Thanh V1 với tổng số tiền là 1.270.000.000 đồng. Hiện gia đình C đã bồi thường, khắc phục toàn bộ hậu quả cho các bị hại.

Do có hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Mai C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Mai C, Hội đồng xét xử thấy:

Hành vi phạm tội của Nguyễn Mai C là đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của các bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây bất bình trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Mai C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã khắc phục toàn bộ hậu quả cho người bị hại; bị cáo có nhân thân tốt; gia đình có nhiều người có công với cách mạng, chồng bị cáo là anh Trần Tuấn S (công tác tại Trung đoàn Cảnh sát cơ động) được tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang và đã chết trong khi làm nhiệm vụ. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Mai C 08 năm 06 tháng tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Mai C xuất trình Đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn, chồng bị cáo đã chết và hiện bị cáo đang một mình nuôi 02 con còn nhỏ (con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019), mẹ bị cáo bị bệnh nhưng vẫn phải hỗ trợ bị cáo trong việc chăm sóc các con của bị cáo; quá trình học tập, cháu Trần Tú A và cháu Trần Bảo L1 (các con của bị cáo) được khen thưởng và tích cực tham gia ủng hộ “Quỹ bảo trợ trẻ em huyện Đ” năm 2025; bị cáo được Ngân hàng TMCP H2 tặng Giấy khen. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần được xem xét, đánh giá khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Xét thấy, trong vụ án này số tiền bị cáo lừa đảo chiếm đoạt của những người bị hại không lớn và đã khắc phục toàn bộ hậu quả ngay sau khi có quyết định khởi tố vụ án thể hiện thái độ ăn năn, hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng bị cáo công tác trong lực lượng Công an nhân dân và đã chết trong khi làm nhiệm vụ, hiện bị cáo phải nuôi 02 con còn nhỏ đang ở độ tuổi rất cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy bảo từ người mẹ; nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với các đối tượng sau khi phạm tội biết ăn năn, hối cải và xem xét các tình tiết giảm nhẹ mới, cũng như xem xét đến hoàn cảnh gia đình bị cáo; Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sớm được trở về với gia đình chăm sóc, nuôi dạy các con nhỏ và làm các công việc có ích cho xã hội như ý kiến của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa.

Đối với các tài liệu do bị cáo xuất trình tại phiên tòa như các Huân, huy chương kháng chiến, Bằng khen... thể hiện gia đình bị cáo có nhiều người có công với cách mạng đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng cho bị cáo; đối với Đơn xin giảm nhẹ hình phạt của những người bị hại không có xác nhận của chính quyền địa phương nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét.

[4]. Về án phí: Kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Mai C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mai C; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 535/2025/HS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Mai C. Cụ thể:

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mai C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mai C 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án phạt tù, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 21/10/2024 đến ngày 13/3/2025.

  2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Mai C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ 1 TANDTC;
  • - Viện Công tố và KSXXPT tại Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - THADS thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo (theo địa chỉ);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Phòng HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Bích Hải

CÁC THẨM PHÁN

 

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Vũ Đông

Điều Văn Hằng

Hoàng Thị Bích Hải

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 497/2025/HS-PT ngày 19/11/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 497/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Mai C phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger