|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 497/2024/HS-ST Ngày: 17-9-2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tam.
Ông Nguyễn Thái Hòa.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Duy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 522/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 511/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Thị Ngọc Y, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1989 tại Long An; Nơi thường trú: D, tổ G, khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Phòng trọ số F - nhà số I, tổ B, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn C, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1966; Gia đình bị cáo có 03 anh, em; bị cáo là con thứ ba trong gia đình, có chồng tên Nguyễn Đức M, sinh năm: 1981 và có 02 con (lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013);
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 26/11/2020, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tại bản án số 664/2020/HS-ST. Bị cáo chấp hành xong bản án vào ngày 11/05/2022.
Bị cáo bị giam, giữ từ ngày 03/06/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thị Ngọc Y và đối tượng T (không rõ lai lịch) có mối quan hệ quen biết nhau và cùng là người sử dụng trái phép chất ma túy.
Khoảng 14 giờ ngày 03/6/2024, Y đi qua khu vực bãi đất trống thuộc khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì gặp T đang ngồi chơi tại đây. Thấy Y, T hỏi mua 01 (một) gói ma túy tổng hợp dạng đá với giá 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng), Y đồng ý và hẹn giao ma tuý cho T vào lúc 16 giờ cùng ngày tại bãi đất trống địa chỉ nêu trên.
Sau đó, Y điều khiển xe mô tô hiệu MIO, biển số 60B8 – 898.29 đi đến khu vực chân cầu vượt T thuộc thành phố D, tỉnh Bình Dương mua của đối tượng T1 (không rõ lai lịch) 02 gói ma tuý tổng hợp (dạng đá) với giá 1.000.000đ (Một triệu đồng) để bán cho T.
Đến khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, khi Y đang cất giấu 01 gói ma tuý trong túi áo khoác bên trái, 01 gói trong túi quần bên trái phía trước Y đang mặc và điều khiển xe mô tô đi đến đoạn đường phía trước số D, tổ G, khu phố C, phường A, thành phố B để bán cho T nhưng chưa kịp bán thì bị Công an phường A kiểm tra phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.
Vật chứng thu giữ:
- 02 (hai) gói nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, số IMEI 359237637954269;
- 01 (một) xe mô tô hiệu MIO, biển số 60B8-89829.
Tại bản Kết luận giám định số 1165/KL-KTHS ngày 10/06/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận:
“Mẫu chất màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,398 gam, loại Methamphetamine;
Mẫu chất màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,418 gam, loại Methamphetamine.”
Về xử lý vật chứng:
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã xử lý trả lại cho bà Nguyễn Thị H (sinh năm 1966, mẹ của Y) 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, số IMEI 359237637954269 và 01 xe mô tô hiệu MIO, biển số 60B8-89829. Bà H nhờ Y mang điện thoại đi sửa và giao xe cho Y làm phương tiện đi lại nhưng không biết Y sử dụng đi mua ma tuý.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Thị Ngọc Y thừa nhận hành vi mua 02 gói ma tuý tổng hợp (dạng đá) với giá 1.000.000đ (Một triệu đồng) với mục đích bán lại cho các đối tượng nghiện ma túy khác thì bị bắt quả tang. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Trần Thị Ngọc Y không có ý kiến khiếu nại đối với các quyết định, hành vi của cơ quan, người tiến hành tố tụng cũng như Kết luận giám định số 1165/KL-KTHS ngày 10/06/2024 của phòng K Công an tỉnh Đ.
Bản cáo trạng số 490/CT-VKSBH ngày 21/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Trần Thị Ngọc Y về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Thị Ngọc Y thừa nhận hành vi mua 02 gói ma tuý tổng hợp (dạng đá) có giá 1.000.000đ (Một triệu đồng) với mục đích bán lại cho các đối tượng nghiện ma túy khác thì bị bắt quả tang phù hợp với nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Thị Ngọc Y về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017);
- Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Ngọc Y từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy sau khi giám định có khối lượng 0,753 gam.
- Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật.
Bị cáo Trần Thị Ngọc Y nói lời nói sau cùng: Bị cáo thấy ăn năn hối hận về hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trên cơ sở tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo có đủ cơ sở xác định:
Vào lúc 16 giờ ngày 03/06/2024, tại khu vực phía trước nhà số D, tổ G, khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Trần Thị Ngọc Y đã có hành vi mang theo 02 gói ma tuý tổng hợp (dạng đá) với mục đích bán cho đối tượng tên T (chưa rõ nhân thân, lai lịch) thì bị Công an phường A phát hiện, bắt quả tang.
[3] Tại Kết luận giám định số 1165/KL-KTHS ngày 10/06/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận:
“Mẫu chất màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,398 gam, loại Methamphetamine;
Mẫu chất màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,418 gam, loại Methamphetamine."
[4] Do đó, hành vi của bị cáo Trần Thị Ngọc Y đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý về các chất ma túy của Nhà nước, bản thân bị cáo Trần Thị Ngọc Y là người nghiện ma túy, hiểu rất rõ tác hại của chất ma túy, là nguyên nhân và mầm móng lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, đồng thời cũng là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác nhưng bị cáo bất chấp quy định cấm của pháp luật vẫn cố ý phạm tội. Đồng thời, bị cáo đã từng bị Tòa án xét xử về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó, cần có mức hình phạt thật nghiêm để cải tạo, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.
[6] Về nhân thân: Ngày 26/11/2020, bị cáo Trần Thị Ngọc Y bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tại bản án số 664/2020/HS-ST. Bị cáo chấp hành xong bản án vào ngày 11/05/2022
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng:
- Gói ma túy (loại Methamphetamine) là mẫu vật hoàn lại sau giám định, đã được niêm phong số 1165/KL-KTHS ngày 10/06/2024 có khối lượng 0,753 gam là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
[10] Về vấn đề khác:
Đối với đối tượng tên T, T1 (không rõ lai lịch) có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho Trần Thị Ngọc Y, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ để xử lý theo quy định.
[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Trần Thị Ngọc Y về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[12] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Thị Ngọc Y phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Luật phí và lệ phí năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Thị Ngọc Y được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017);
Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Ngọc Y 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2024.
Tịch thu tiêu hủy gói ma túy (loại Methamphetamine) là mẫu vật hoàn lại sau giám định, đã được niêm phong số 1165/KL-KTHS ngày 10/06/2024 có khối lượng 0,753 gam là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành.
(Số vật chứng đang lưu giữa tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/8/2024).
Buộc bị cáo Trần Thị Ngọc Y phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Anh Đức |
Bản án số 497/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 497/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Trần Thị Ngọc Y 03 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
