Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 497/2024/DS-PT

Ngày: 26/11/2024.

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang Thư

Các Thẩm phán: 1/ Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan

2/ Bà Võ Bích Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 321/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 141/2024/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 416/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị N, sinh năm 1969.

Nơi cư trú: Ấp L, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hồ Hiếu T, sinh năm 1996; Địa chỉ: Số B, đường H, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (Văn bản ủy quyền ngày 26/11/2024); Có mặt.

- Bị đơn: Bùi Thanh P, sinh năm 1967 (chết ngày 06/4/2023).

Nơi cư trú (trước khi chết): Số A, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn:

  1. Cụ Nguyễn Thị X, sinh năm 1932; Có mặt.
  2. Bà Bùi Thị Trúc Đ, sinh năm 1990; Có mặt.
  3. Ông Bùi Tuấn Đ1, sinh năm 1994; Vắng mặt.

Cùng cư trú: Số A, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

  1. Ông Bùi Tiến Đ2, sinh năm 2006; Vắng mặt.

Địa chỉ: Số A, đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Cụ Nguyễn Thị X, sinh năm 1932; Có mặt.
  2. Bà Bùi Thị Trúc Đ, sinh năm 1990; Có mặt.
  3. Ông Bùi Tuấn Đ1, sinh năm 1994; Vắng mặt.

Cùng cư trú: Số A, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

* Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Bùi Thị N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 03/3/2021 và quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Bùi Thị N (có ông Nguyễn Minh T1 đại diện tại cấp sơ thẩm, ông Hồ Hiếu T đại diện tại cấp phúc thẩm) thống nhất trình bày:

Vào năm 2003, bà Bùi Thị N (nguyên đơn) có nhận chuyển nhượng phần đất diện tích khoảng 20m² (Kích thước chiều ngang khoảng 05m, chiều dài khoảng 04m) tọa lạc tại số A, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ của bà Ngô Bích S với số tiền 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng). Tại thời điểm chuyển nhượng, trên đất có căn nhà cấp 4. Sau khi nhận chuyển nhượng, nguyên đơn đã sửa chữa lại căn nhà trên và cho gia đình ông Bùi Thanh P (bị đơn) ở nhờ. Đến năm 2020, bà N yêu cầu gia đình ông P giao trả lại nhà nhưng ông P không đồng ý.

Tại thời điểm chuyển nhượng, bà N và bà S có lập “Giấy mua bán” viết tay. Tuy nhiên, do bà N đi làm xa nên đã giao “Giấy mua bán” cho ông P giữ. Sau này, bà N nhiều lần yêu cầu ông P giao trả “Giấy mua bán” thì ông P cho rằng đã thất lạc.

Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Công nhận cho bà Bùi Thị N quyền sử dụng đất và căn nhà gắn liền với đất có kích thước chiều ngang 05m, chiều dài 04m, diện tích 20m² (nêu trên) và buộc ông Bùi Thanh P giao trả lại nhà đất cho bà N.

* Tại bản tự khai đề ngày 04/4/2022 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Bùi Thanh P trình bày:

Phần đất tranh chấp diện tích khoảng 20m², tọa lạc tại số A, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; có nguồn gốc do ông Bùi Thanh P (bị đơn) nhận chuyển nhượng của bà Ngô Bích S và ông Trần Quang T2 với số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) vào năm 2003. Thời điểm bị đơn nhận chuyển nhượng, trên đất có căn nhà tiền chế; đến năm 2014 gia đình ông P đã xây dựng lại nền nhà và sử dụng đến nay.

Quá trình tố tụng, ông Bùi Thanh P chết ngày 06/4/2023 – có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng gồm: cụ Nguyễn Thị X, bà Bùi Thị Trúc Đ và ông Bùi Tuấn Đ1 tiếp tục quản lý, sử dụng nhà đất nêu trên.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ Nguyễn Thị X, bà Bùi Thị Trúc Đ và ông Bùi Tuấn Đ1 thống nhất trình bày:

Phần đất tranh chấp tọa lạc tại số A, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ, có diện tích khoảng 20m²; trên đất có căn nhà tạm (diện tích khoảng 20m², nhà có kết cấu mái che và tường phía trước, ba phía còn lại sử dụng nhờ tường của các hộ liền kề) hiện do cụ X, bà Đ, ông Đ1 đang quản lý, sử dụng. Nhà đất có nguồn gốc do ông Bùi Thanh P (bị đơn) nhận chuyển nhượng từ bà Ngô Bích S và ông Trần Quang T2 với số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Ông P là người trực tiếp nhận chuyển nhượng nhà đất và trả tiền cho bà S, ông T2. Đồng thời, ông P đã trực tiếp quản lý, sử dụng từ thời điểm nhận chuyển nhượng cho đến khi chết vào năm 2023.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện; đồng thời có thể hiện ý kiến: Trường hợp không buộc những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn giao trả lại nhà đất thì yêu cầu trả lại giá trị tài sản cho nguyên đơn với số tiền là 354.750.000 đồng (Ba trăm năm mươi bốn triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng).

Tại bản án dân sự dân sự sơ thẩm số: 141/2024/DSST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị N về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa 158, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại số A, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ và buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông bùi Thanh P giao trả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho bà Bùi Thị N.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.

Tại đơn kháng cáo đề ngày 03/7/2024, nguyên đơn bà Bùi Thị N đề nghị cấp phúc thẩm “Sửa án sơ thẩm” để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn giữ nguyên các yêu cầu về kháng cáo, khởi kiện.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Qua phân tích, đánh giá các tài liệu chứng cứ và tình tiết, dữ kiện liên quan thể hiện: Bản án sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp. Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới. Nên đề nghị Hội đồng xét xử “Giữ nguyên bản án sơ thẩm”, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị N trong thời hạn luật định, có nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên hợp lệ.

[2] Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến của bị đơn và các chứng cứ đã thẩm tra cho thấy: Các bên tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Trong đó: bất động sản tranh chấp tọa lạc tại địa giới hành chính quận N nên Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thụ lý giải quyết và xác định quan hệ pháp luật là có căn cứ, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn (chết - có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng) và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo.

Riêng, nguyên đơn cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa đúng với bản chất của vụ án, không đúng sự thật khách quan, đã gây thiệt thòi quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên kháng cáo yêu cầu câp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4] Hội đồng xét xử xét thấy:

[4.1] Nguyên đơn cho rằng: quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có nguồn gốc của gia đình ông Nguyễn Văn H; rồi qua bà Ngô Bích S, ông Trần Quang T2; năm 2003, nguyên đơn nhận chuyển nhượng lại từ mẹ con bà S, ông T2 với số tiền là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) và cho bị đơn ông Bùi Thanh P (anh ruột) ở nhờ nên yêu cầu đòi lại.

[4.2] Theo phía bị đơn, phần đất tranh chấp bị đơn nhận chuyển nhượng của mẹ con bà Ngô Bích S, ông Trần Quang T2 với số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) vào năm 2003; thời điểm nhận chuyển nhượng, trên đất có căn nhà tiền chế; đến năm 2014 gia đình bị đơn đã xây dựng lại nền nhà và sử dụng đến nay nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời, bị đơn cung cấp các tài liệu chứng cứ gồm: Tờ sang nhượng nhà ngày 16-7-03 được ký kết giữa người sang nhượng mẹ con bà Ngô Bích S, ông Trần Quang T2 với người mua ông Bùi Thanh P; Giấy ủy quyền của ông Nguyễn Văn H ngày 20-7-2007 về việc đồng ý để lại phần đất cho ông Bùi Thanh P; Đơn xin xác nhận có nhà ở ổn định; Chứng nhận số nhà và các Biên lai thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Thông báo nộp thuế vào những năm 2007->2016 (Bút lục: 27->40).

[4.3] Qua xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản tranh chấp xác định được: Phần đất tranh chấp thuộc thửa 158, tờ bản đồ số 12, diện tích khoảng 21,5m², tọa lạc tại số A, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Tài sản gắn liền với đất là căn nhà tạm, diện tích khoảng 20m², có kết cấu mái che và tường phía trước, ba phía còn lại sử dụng tường nhà của các hộ liền kề.

[4.4] Mặc dù, quá trình tố tụng, nguyên đơn cung cấp ý kiến của các ông/bà Nguyễn Văn H, Ngô Bích S, Trần Quang T2 và Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành làm việc, lấy lời khai của đương sự; theo đó, họ đều có lời khai thống nhất về việc: từ trước đến nay chỉ chuyển nhượng cho bà Bùi Thị N (nguyên đơn), còn thủ tục ký tên trên giấy tờ là do vào năm 2022, phía ông Bùi Thanh P (bị đơn) đến gặp và trình bày “giấy tờ mua bán đã bị mất nên nhờ ký lại”, do biết ông P là anh ruột bà N nên các ông, bà ký tên (Bút lục: 45, 52, 54).

Tuy nhiên, tại Công văn số 448/CN.VPĐKĐĐ ngày 19/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận N (Bút lục: 110) phúc đáp nội dung như sau: Thửa đất số 158, tờ bản đồ 12, diện tích 21.5m², tọa lạc tại số A, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ là thửa đất gốc, hiện chưa ai đăng ký; tháng 9/1998 đo đạc thành lập bản đồ thì đã có thửa đất nêu trên (đính kèm Sổ mục kê). Theo đó, Sổ mục kê không ghi nhận tên Nguyễn Văn H hay Ngô Bích S, Trần Quang T2 nên không có căn cứ sử dụng lời khai của ông H, bà S, ông T2 cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chủ cũ chuyển nhượng đất.

Hơn nữa, các giấy tờ về sang nhượng nhà ngày 16-07-03, Giấy ủy quyền ngày 20-07-2007 đều được viết trên các loại giấy đã ngả màu (Bút lục: 125, 126) nên việc người làm chứng cho rằng mới được thiết lập vào năm 2022 không đủ cơ sở thuyết phục.

Dẫn chiếu các nội dung xác lập như sau:

(1) Tờ sang nhượng nhà ngày 16-07-03:

Tôi tên Trần Quang T2

Mẹ ruột tôi là Ngô Bích Sơn

Hai mẹ con tôi đồng ý sang nhượng lại căn nhà cho anh Bùi Thanh P với số tiền là Mười triệu đồng chẵn (10.000.000₫).

(Ký và ghi rõ họ tên của người sang nhượng Trần Quang T2, Ngô Bích S; người mua Bùi Thanh P).

(2) Giấy ủy quyền ngày 20-07-2007:

Tôi tên Nguyễn Văn H.

Đồng ý để lại đất cho anh Bùi Thanh P sử dụng đất với diện tích 5m x 3,7m và nhà đã cất.

Anh Bùi Thanh P được ở và chịu trách nhiệm về thuế và mọi thủ tục hành chính, quyền lợi khi ở trên miếng đất này.

(Ký và ghi rõ họ tên Nguyễn Văn H).

Xét về thực tế, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất do ông Bùi Thanh P trực tiếp quản lý, sử dụng từ năm 2003; đến ngày 06/4/2023, ông P chết, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là cụ Nguyễn Thị X, bà Bùi Thị Trúc Đ, ông Bùi Tuấn Đ1 tiếp tục quản lý, sử dụng. Quá trình sử dụng đất, phía bị đơn được cấp số nhà, xác lập Sổ hộ khẩu gia đình và liên tục thực hiện nghĩa vụ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp/đất ở tại đô thị (Bút lục: 27 ->36). Việc sử dụng đất của phía bị đơn phù hợp với nội dung xác lập giao dịch.

Từ những sự kiện nêu trên cho thấy: việc bị đơn quản lý sử dụng có nguồn gốc cụ thể và ổn định không tranh chấp 19 năm (cho đến khi nguyên đơn khởi kiện và được Tòa án thụ lý vụ án vào ngày 02/3/2022).

Góc độ nguyên đơn (bà N) không có văn bản thỏa thuận về việc cho ở nhờ, về phía bị đơn không thừa nhận ở nhờ nên không có cơ sở xem xét thỏa mãn sự việc này.

[ ] Với những cơ sở đã nêu cho thấy: Nguyên đơn khởi kiện nhưng không cung cấp được chứng cứ xác thực, không đáp ứng được nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp nên không có cơ sở chấp nhận.

[9] Về án phí dân sự phúc thẩm:

Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.

[ ] Những phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành và đảm bảo giá trị pháp lý ràng buộc nên không xem xét.

[10] Từ những phân tích trên, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Luận cứ của Luật sư bị đơn là có cơ sở.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị N (có ông Hồ Hiếu T đại diện).

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 141/2024/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Áp dụng:

  • Các Điều 91, 147 và 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Căn cứ vào:

  • Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 158, Điều 228, Điều 229, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 26, Điều 166, Điều 202, Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
  • Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị N về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa 158, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại số A, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ và buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Bùi Thanh P giao trả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho bà Bùi Thị N.
  2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

    Nguyên đơn bà Bùi Thị N phải chịu 6.004.000 đồng (Sáu triệu không trăm lẻ bốn nghìn đồng). Nguyên đơn đã nộp tạm ứng và chi xong.

  3. Về án phí dân sự:

    - Án phí sơ thẩm:

    Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng); Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp là 8.250.000 đồng (Tám triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai số 0001489 ngày 20/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Nguyên đơn được nhận lại 7.950.000 đồng (Bảy triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

    - Án phí phúc thẩm:

    Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp theo biên lai số 0001541 ngày 03/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ thành án phí phải chịu (đã thực hiện xong).

  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- Đương sự;

- VKSND thành phố Cần Thơ;

- TAND quận Ninh Kiều;

- Chi cục THADS quận Ninh Kiều;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Trang Thư

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Trang Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 497/2024/DS-PT ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất.

  • Số bản án: 497/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger