Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 496/2024/DS - PT

Ngày: 31-5-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng

tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Thương

Các Thẩm phán: 1. Bà Nguyễn Thị Thu

2. Bà Nguyễn Thị Kim Cương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 330/2024/TLPT-DS ngày 03 tháng 04 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 44/2023/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1990/2024/QĐ - PT ngày 16/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5196/2024/QĐ-PT ngày 9/5/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần T2.

Trụ sở: Tòa nhà T, E L, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.

Địa chỉ Chi nhánh: 153 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Văn H (Giấy ủy quyền số 565/2024/GUQ-TPB.DR ngày 27/5/2024).

Địa chỉ liên hệ: Lầu 4, C Hậu Giang, Phường B, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn:

  • Ông Trần Quốc T1, sinh năm 1971.
  • Bà Tăng Thị Thùy N, sinh năm 1973.
  • Ông Trần Quốc H1, sinh năm 1968.
  • Bà Bùi Thị Hồng V, sinh năm 1982.

Cùng địa chỉ: 1 N, Phường C, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H1, bà V: Luật sư Đậu Thị Q, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Trần K, sinh năm 1963.
  • Ông Trần Văn H2, sinh năm 1961.
  • Ông Trần Văn D, sinh năm 1959.
  • Bà Nguyễn Thị Kiều L, sinh năm 1976.
  • Bà Trần Ngọc H3, sinh năm 1993.
  • Bà Trần Thị Thanh H4, sinh năm 1998.

Cùng địa chỉ: 1 N, Phường C, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người kháng cáo: Bị đơn – ông Trần Quốc T1 và ông Trần Quốc H1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 09/12/2016 và tại các buổi làm việc tại Tòa án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T2 có ông Nguyễn Hữu K1 và ông Nguyễn Văn H đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 29/07/2014, T3 ký Hợp đồng tín dụng số: 48-07.14/HDTDDH/TPBANK.HCM với ông Trần Quốc Toản/bà Tăng Thị Thùy N1 và ông Trần Quốc Hải\bà Bùi Thị Hồng V1 (“ông Toản\bà N2 và ông Hải\bà V1”). Theo đó, T3 đồng ý cấp cho ông Toản\bà N2 và ông Hải\bà V1 số tiền là: 3.500.000.000 đồng (Ba tỷ năm trăm triệu đồng); mục đích: Thanh toán tiền mua bất động sản tại số A N, Phường F, Quận A, TP .; thời hạn vay: 240 tháng; Lãi suất: theo quy định của Ngân hàng tại thời điểm giải ngân.

Ngày 29/07/2014, T3 ký hợp đồng thế chấp tài sản số: 48-07.14/HĐTC/TPBANK.HCM với ông Trần Quốc T1 và ông Trần Quốc H1. Theo Hợp đồng thế chấp này, ông T1 và ông H1 đã tự nguyện thế chấp Quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số: 36 (thửa cũ:17); tờ bản đồ số: 14; diện tích: 118 m²; tọa lạc tại: 1 N, Phường C, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Và tài sản gắn liền với đất là căn nhà số: 1 N, Phường C, Quận E, thành phố Hồ Chí Minh, diện tích xây dựng: 118 m², diện tích sử dụng: 337 m², kết cấu: Tường gạch, sàn BT, mái BT + tôn. Theo Giấy CN QSHNO & QSDĐ, hồ sơ gốc số: 4458/98 do U cấp ngày 28/03/1998, cập nhập thay đổi chủ sở hữu mới cho ông Trần Quốc T1 và ông Trần Quốc H1 ngày 08/03/2004.

Để đảm bảo cho khoản vay của ông Toản\bà N2 và ông Hải\bà V1 tại Ngân hàng. Hợp đồng thế chấp tài sản này đã được công chứng tại Văn phòng C, số công chứng: 013881, quyển số: 07 và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký Quyền sử dụng đất Quận E, TP . ngày 29/07/2014.

Sau khi giải ngân và đến kỳ hạn trả nợ, khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, Giấy nhận nợ đã ký mặc dù Ngân hàng nhiều lần đôn đốc yêu cầu.

Trong thời gian qua, Ngân hàng đã nhiều lần gọi điện đôn đốc, trực tiếp xuống làm việc với ông Toản\bà N2 và ông Hải\bà V1 yêu cầu thực hiện nghĩa vụ đã cam kết nhưng không thực hiện.

Do việc ông Toản\bà N2 và ông Hải\bà V1 không muốn trả nợ nhằm chiếm dụng vốn của Ngân hàng. Vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Ngân hàng TMCP T2 kính đề nghị Quý Toà xem xét, giải quyết thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Để bảo vệ quyền và lợi ích của Ngân hàng, bằng đơn này Ngân hàng TMCP T2 khởi kiện ông Trần Quốc Toản/bà Tăng Thị Thùy N1 và ông Trần Quốc H5 Bùi Thị Hồng V1 tại Tòa án Nhân dân Quận 3 – Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu Tòa án quyết các vấn đề sau:

Buộc ông Trần Quốc Toản/bà Tăng Thị Thùy N1 và ông Trần Quốc H5 Bùi Thị Hồng V1 thanh toán cho Ngân hàng TMCP T2 tổng số tiền (tạm tính đến ngày 05/7/2023) là: 8.614.798.142 đồng, trong đó:

  • Nợ gốc : 3.453.947.369 đồng.
  • Nợ nãi trong hạn: 113.148.000 đồng.
  • Nợ lãi quá hạn: 5.047.702.773 đồng.

Trường hợp sau 15 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật ông Toản\bà N1 và ông Hải bà V1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP T2 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án tiến hành kê biên và phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng, cụ thể tài sản đảm bảo là:

Quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số: 36 (thửa cũ:17); tờ bản đồ số: 14; diện tích: 118 m²; tọa lạc tại: 1 N, Phường C, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Và tài sản gắn liền với đất là căn nhà số: 1 N, Phường C, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, diện tích xây dựng: 118 m², diện tích sử dụng: 337 m², kết cấu: Tường gạch, sàn BT, mái BT + tôn. Theo Giấy CN QSHNO & QSDĐ, hồ sơ gốc số: 4458/98 do U cấp ngày 28/03/1998, cập nhập thay đổi chủ sở hữu mới cho ông Trần Quốc T1 và ông Trần Quốc H1 ngày 08/03/2004.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ ông Toản\bà N1 và ông Hải\bà V1 đối với Ngân hàng. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Toản\bà N1 và ông Hải\bà V1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.

Bị đơn – ông Trần Quốc T1 trình bày: Ông xác nhận có ký kết hợp đồng tín dụng và các khoản còn nợ ngân hàng T2 đúng như lời trình bày của đại diện nguyên đơn.

Ông xác nhận ông còn nợ Ngân hàng T2 số tiền nợ gốc là 3.453.947.369 đồng, số tiền lãi thì ông không tính được.

Ông đồng ý trả nợ theo yêu cầu của Ngân hàng nhưng đề nghị để ông có thời gian thu xếp trả nợ.

Bị đơn ông Trần Quốc H1 trình bày: Ông xác nhận có ký kết Hợp đồng tín dụng số: 48-07.14/HDTDDH/TPBANK.HCM và hợp đồng thế chấp tài sản số: 48-07.14/HĐTC/TPBANK.HCM.

Ông đồng ý trả nợ cho ngân hàng nhưng cho ông thời gian để thu xếp trả nợ.

Bị đơn bà Tăng Thị Thùy N1 có ý kiến: Bà đồng ý với trình bày của ông Trần Quốc T1, và không bổ sung gì thêm, bà yêu cầu được vắng mặt trong các buổi làm việc, hòa giải, xét xử của Tòa án.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng V2 có ý kiến: Bà đồng ý kiến với trình bày của ông Trần Quốc H1 và không có ý kiến gì khác.

Tại phiên tòa:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu K1 và ông Nguyễn Văn H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu các bị đơn phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T2 số nợ tính đến ngày 30/8/2023 là 9.747.066.705 đồng bao gồm nợ gốc 3.453.947.369 đồng, nợ gốc quá hạn 2.794.046.171 đồng, nợ lãi trong hạn 1.151.100.435 đồng, nợ lãi quá hạn 2.347.972.730 đồng. Trường hợp sau 15 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà các bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP T2 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án tiến hành kê biên và phát mại tài sản bảo đảm.

Bị đơn – ông Trần Quốc T1 đồng ý với khoản nợ gốc là 3.453.947.369 đồng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại về số nợ lãi.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn - ông Trần Quốc H1 có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét Hợp đồng tín dụng mà ông Trần Quốc H1 đã ký với Ngân hàng T2 với mục đích là vay tiền để mua nhà nhưng thực tế là ông không được nhận tiền để mua nhà, ông không trực tiếp sử dụng số tiền này và ông cũng không biết ông T1 dùng tiền này để làm gì. Do đó Hợp đồng tín dụng này vô hiệu do ông bị lừa dối.

Bị đơn – bà Bùi Thị Hồng V1 đồng ý kiến với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Trần Quốc H1.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần K, ông Trần Văn D, bà Nguyễn Thị Kiều L bà Trần Thị Thanh H4 không có ý kiến về việc vay nợ của ông T1 và ông H1. Không đồng ý phát mãi tài sản đảm bảo vì các ông bà đang sinh sống tại đây.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 44/2023/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2023 và Quyết định sửa chữa, bổ sung số 154/QĐ-SCBSBA ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần T2:

    Buộc các bị đơn ông Trần Quốc T1, ông Trần Quốc H1, bà Tăng Thị Thùy N1, bà Bùi Thị Hồng V1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T2 số tiền bao gồm:

    • Nợ gốc là 3.453.947.369 (ba tỷ bốn trăm năm mươi ba triệu chín trăm bốn mươi bảy nghìn ba trăm sáu mươi chín) đồng.
    • Nợ lãi trong hạn là 113.148.000 (một trăm mười ba triệu một trăm bốn mươi tám nghìn) đồng.
    • Nợ lãi quá hạn là 5.038.273.027 (năm tỷ không trăm ba mươi tám triệu hai trăm bảy mươi ba nghìn không trăm hai mươi bảy) đồng.

    Tổng cộng là 8.605.368.396 (tám tỷ sáu trăm lẻ năm triệu ba trăm sáu mươi tám nghìn ba trăm chín mươi sáu) đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 48-07.14/HDTDDH/TPBANK.HCM ngày 29/7/2014.

    Sau 15 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật ông Trần Quốc T1, bà Tăng Thị Thùy N1, ông Trần Quốc H1, bà Bùi Thị Hồng V1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP T2 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án tiến hành kê biên và phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng, cụ thể tài sản đảm bảo là:

    Quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số: 36 (thửa cũ:17); tờ bản đồ số: 14; diện tích: 118 m²; tọa lạc tại: 1 N, Phường C, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Và tài sản gắn liền với đất là căn nhà số: 1 N, Phường C, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, diện tích xây dựng: 118 m², diện tích sử dụng: 337 m², kết cấu: Tường gạch, sàn BT, mái BT + tôn. Theo Giấy CN QSHNO & QSDĐ, hồ sơ gốc số: 4458/98 do U cấp ngày 28/03/1998, cập nhập thay đổi chủ sở hữu mới cho ông Trần Quốc T1 và ông Trần Quốc H1 ngày 08/03/2004.

  2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần T2 về số tiền lãi 1.141.698.336 (một tỷ một trăm bốn mươi mốt triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn ba trăm ba mươi sáu) đồng.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • Ông Trần Quốc T1, ông Trần Quốc H1, bà Tăng Thị Thùy N1, bà Bùi Thị Hồng V1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 116.605.368 (một trăm mười sáu triệu sáu trăm lẻ năm nghìn ba trăm sáu mươi tám) đồng.
    • Ngân hàng Thương mại Cổ phần T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 46.250.950 (bốn mươi sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn chín trăm năm mươi) đồng nhưng được cấn trừ số tiền tạm ứng án phí 54.969.673 (năm mươi bốn triệu chín trăm sáu mươi chín nghìn sáu trăm bảy mươi ba) đồng theo biên lai thu số AC/2014/0003222 ngày 23/12/2016 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngân hàng Thương mại Cổ phần T2 được hoàn lại 8.718.723 (tám triệu bảy trăm mười tám nghìn bảy trăm hai mươi ba) đồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo và quy định về thi hành án cho các bên đương sự.

Ngày 12 tháng 9 năm 2023, bị đơn ông Trần Quốc T1 và ông Trần Quốc H1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người kháng cáo - Bị đơn ông Trần Quốc H1, ông Trần Quốc T1 cùng thống nhất trình bày: Bị đơn đồng ý trả nợ và xử lý tài sản bảo đảm cho ngân hàng theo bản án sơ thẩm đã tuyên. Tuy nhiên, Bị đơn đề nghị ngân hàng cho thời hạn thực hiện trả nợ và xử lý tài sản bảo đảm trong thời hạn 06 tháng để bị đơn có thời gian thu xếp bán tài sản trả nợ.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: qua đề nghị của phía bị đơn, ngân hàng chỉ đồng ý cho thời hạn thực hiện trả nợ và xử lý tài sản bảo đảm là trong vòng 05 tháng kể từ ngày 31/5/2024; Hạn chót là ngày 31/10/2024.

Phía Bị đơn đồng ý thực hiện trả nợ, xử lý tài sản bảo đảm trong thời hạn 5 tháng kể từ ngày 31/5/2024; Hạn chót là ngày 31/10/2024 theo yêu cầu của ngân hàng.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông H1, bà V1 trình bày: tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã thỏa thuận giữ nguyên bản án sơ thẩm, chỉ thay đổi về thời hạn thực hiện trả nợ, xử lý tài sản bảo đảm trong thời hạn 5 tháng kể từ ngày 31/5/2024; Hạn chót là ngày 31/10/2024. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của đương sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về hình thức: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử phúc thẩm đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ngân hàng TMCP T2 buộc các bị đơn ông Trần Quốc T1, ông Trần Quốc H1, bà Tăng Thị Thùy N1, bà Bùi Thị Hồng V1 phải trả cho Ngân hàng tổng cộng số tiền 8.605.368.396 đồng là phù hợp.

Tại phiên tòa, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về thời hạn trả nợ. Theo đó phía nguyên đơn đồng ý cho bị đơn được trả nợ trong thời hạn 05 tháng bắt đầu kể từ ngày 31/5/2024 đến hết ngày 31/10/2024. Nhận thấy việc thỏa thuận

của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên ghi nhận. Bởi các lẽ trên, Viện kiểm sát đề nghị HĐXX xem xét, căn cứ Điều 300 Bộ luật TTDS 2015 sửa án theo hướng ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Về án phí phúc thẩm: Đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn cùng thống nhất thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, cụ thể như sau: Giữ nguyên bản án sơ thẩm về việc buộc các Bị đơn trả nợ gốc, nợ lãi, xử lý tài sản bảo đảm theo bản án sơ thẩm đã tuyên; Chỉ thay đổi về thời hạn thực hiện trả nợ và xử lý tài sản bảo đảm là: 05 tháng, kể từ ngày 31/5/2024. Hạn chót ngày 31/10//2024.

[2] Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự về thời hạn thực hiện trả nợ, xử lý tài sản bảo đảm là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội được Hội đồng xét xử chấp nhận: Sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về thời hạn thực hiện trả nợ, xử lý tài sản bảo đảm; các nội dung khác giữ nguyên như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Đương sự chịu theo bản án sơ thẩm đã tuyên.

[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 299; Điều 317, Điều 318; Điều 323; Điều 463; khoản 1, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án của Ủy ban Thường vụ Q1. Luật Thi hành án dân sự.

Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 44/2023/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần T2:
    1. Buộc các bị đơn ông Trần Quốc T1, ông Trần Quốc H1, bà Tăng Thị Thùy N1, bà Bùi Thị Hồng V1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T2 số tiền bao gồm:
      • Nợ gốc là 3.453.947.369 (ba tỷ bốn trăm năm mươi ba triệu chín trăm bốn mươi bảy nghìn ba trăm sáu mươi chín) đồng.
      • Nợ lãi trong hạn là 113.148.000 (một trăm mười ba triệu một trăm bốn mươi tám nghìn) đồng.
      • Nợ lãi quá hạn là 5.038.273.027 (năm tỷ không trăm ba mươi tám triệu hai trăm bảy mươi ba nghìn không trăm hai mươi bảy) đồng.

      Tổng cộng là 8.605.368.396 (tám tỷ sáu trăm lẻ năm triệu ba trăm sáu mươi tám nghìn ba trăm chín mươi sáu) đồng.

      Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 48-07.14/HDTDDH/TPBANK.HCM ngày 29/7/2014.

    2. Thời hạn thực hiện trả nợ và xử lý tài sản bảo đảm là 05 tháng, kể từ ngày 31/5/2024. Hạn chót là ngày 31/10/2024. Sau thời hạn này, ông Trần Quốc T1, bà Tăng Thị Thùy N1, ông Trần Quốc H1, bà Bùi Thị Hồng V1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP T2 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án tiến hành kê biên và phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng, cụ thể tài sản đảm bảo là:

      Quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số: 36 (thửa cũ:17); tờ bản đồ số: 14; diện tích: 118 m²; tọa lạc tại: 1 N, Phường C, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Và tài sản gắn liền với đất là căn nhà số: 1 N, Phường C, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, diện tích xây dựng: 118 m², diện tích sử dụng: 337 m², kết cấu: Tường gạch, sàn BT, mái BT + tôn. Theo Giấy CN QSHNO & QSDĐ, hồ sơ gốc số: 4458/98 do U cấp ngày 28/03/1998, cập nhập thay đổi chủ sở hữu mới cho ông Trần Quốc T1 và ông Trần Quốc H1 ngày 08/03/2004.

  2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần T2 về số tiền lãi 1.141.698.336 (một tỷ một trăm bốn mươi mốt triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn ba trăm ba mươi sáu) đồng.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • Ông Trần Quốc T1, ông Trần Quốc H1, bà Tăng Thị Thùy N1, bà Bùi Thị Hồng V1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 116.605.368 (một trăm mười sáu triệu sáu trăm lẻ năm nghìn ba trăm sáu mươi tám) đồng.
    • Ngân hàng Thương mại Cổ phần T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 46.250.950 (bốn mươi sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn chín trăm năm mươi) đồng nhưng được cấn trừ số tiền tạm ứng án phí 54.969.673 (năm mươi bốn triệu chín trăm sáu mươi chín nghìn sáu trăm bảy mươi ba) đồng theo biên lai thu số AC/2014/0003222 ngày 23/12/2016 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngân hàng Thương mại Cổ phần T2 được hoàn lại 8.718.723 (tám triệu bảy trăm mười tám nghìn bảy trăm hai mươi ba) đồng.
  4. Án phí phúc thẩm:
    • Ông Trần Quốc H1 phải chịu 300.000 đồng được cấn trừ vào án phí tạm nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số AA/2022/ 0000932 ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 3. Ông H1 đã nộp đủ án phí phúc thẩm;
    • Ông Trần Quốc T1 phải chịu 300.000 đồng được cấn trừ vào án phí tạm nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số AA/2022/0000931 ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 3. Ông T1 đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối Cao;
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Cục thi hành án dân sự TPHCM;
  • - Chi cục THADS Quận 3;
  • - TAND Quận 3;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Kim Thương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 496/2024/DS - PT ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 496/2024/DS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger