Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHỈ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 496/2024/DS - ST

Ngày: 23/5/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Yến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lâm Thị Hoàng Oanh

2. Bà Bùi Thị Hòa Bình

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Mỹ Linh - Cán bộ Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thúy Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh,Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 2237/2022/TLST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 116/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lâm Việt H; địa chỉ: Số D Đường N, khóm F, Phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn:

A1; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau; địa chỉ tạm trú: Số A Đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Ông Hà Vũ H1- Chủ Doanh nghiệp tư nhân X; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, Xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau; địa chỉ tạm trú: Số A Đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 10 năm 2022, bản tự khai tại, các biên bản của

Tòa án, nguyên đơn trình bày:

Do ông và bà T có quan hệ họ hàng nên ông đã cho vợ chồng ông H1 bà T vay tiền nhiều lần. Cụ thể:

Ngày 31/07/2006, ông có chuyển tiền qua Ngân hàng Thương mại Cổ phần C cho doanh nghiệp tư nhân X do ông H1 làm chủ doanh nghiệp vay số tiền 50.000.000 đồng theo Giấy nộp tiền kiêm ủy nhiệm chuyển tiền và Phiếu thu dịch vụ kiêm hóa đơn ngày 31/7/2006.

Tết năm 2006, ông tiếp tục cho ông H1 và bà T vay số tiền 2000 đô la Mỹ tương đương 48.000.000 đồng, tiền này ông giao trực tiếp cho bà T, không có giấy vay, giấy biên nhận và không có ai làm chứng.

Khoảng tháng 10/2006, ông tiếp tục cho ông H1 và bà T vay 2000 đô la Mỹ tương đương 48.000.000 đồng, tiền này ông giao trực tiếp cho bà T, không có làm giấy vay, giấy biên nhận và không có ai làm chứng.

Từ Tết năm 2007 đến nay, ông đã đòi ông H1, bà T trả nợ. Ông H1, bà T có hứa trả cho ông nhưng đến nay vẫn không trả.

Do vậy ông nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Hà Vũ H1 - Chủ DNTN xăng dầu X trả số tiền 50.000.000 đồng; buộc ông Hà Vũ H1 và bà Lâm Bạch T1 trả 4.000 đô la Mỹ tương đương 96.000.000 đồng. Ông không yêu cầu ông Hà Vũ H1 và bà Lâm Bạch T1 phải trả tiền lãi đối với các số nợ trên.

Tại phiên tòa, nguyên đơn xác định giữa nguyên đơn và các bị đơn không lập hợp đồng vay tài sản, chỉ có thỏa thuận vay vài tháng rồi trả, không lãi suất. Nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu bị đơn trả tiền nhưng bị đơn không chịu trả và sau đó bị đơn trốn tránh nên nguyên đơn không liên lạc được với bị đơn. Ngày 19/12/2022, nguyên đơn đã gửi thư thông báo đòi nợ cho bị đơn và yêu cầu bị đơn phải trả tiền trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày 19/12/2022 nhưng cho đến nay bị đơn vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình. Nguyên đơn rút yêu cầu về việc buộc ông Hà Vũ H1 và bà Lâm Bạch T1 liên đới trách nhiệm trả 4.000 đô la Mỹ tương đương 96.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần C số tiền 50.000.000 đồng để chuyển cho doanh nghiệp tư nhân X nhưng sau khi trừ chi phí chuyển tiền thì số tiền doanh nghiệp tư nhân X thực nhận là 47.640.000 đồng nên nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu ông Hà Vũ H1- Chủ doanh nghiệp tư nhân X trả cho nguyên đơn số tiền 47.640.000 đồng.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tại bản tự khai ngày 13/12/2022, bị đơn là bà Lâm Bạch T1 và ông Hà Vũ H1 trình bày: Ông bà không nợ của ông Lâm Việt H số tiền nào. Ngoài ra bị đơn không có ý kiến nào khác.

Về phần phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Ngoại trừ việc vi phạm về tống đạt thông báo thụ lý cho bị đơn và thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa. Các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của tại các điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về nội dung: Căn cứ Giấy nộp tiền kiêm ủy nhiệm chuyển tiền và Phiếu thu dịch vụ kiêm hóa đơn ngày 31/7/2006 thể hiện thông qua dịch vụ chuyển tiền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần C, bị đơn là ông H1 - Chủ doanh nghiệp tư nhân X đã nhận của nguyên đơn số tiền 47.640.000 đồng. Nguyên đơn đã có thông báo đòi nợ nhưng bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khổi kiện nguyên đơn đã rút. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền nợ đã vay. Căn cứ kết quả cung cấp tài liệu chứng cứ ngày 22/02/2023 của Công an P, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh: “Ông Hà Vũ H1 sinh năm 1972 và Lâm bạch T2 sinh năm 1969 có đăng ký tạm trú tại A N, Phường B, quận B, không thực tế cư ngụ tại địa phương từ 15/01/2023 đến nay. Đã trả nhà lại cho chủ nhà, hiện đi đâu, làm gì không rổ” nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là tranh chấp hợp vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2.] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà không có mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về việc đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng.

Tại bản khai ngày 11/01/2024, bà Bã Thị Thanh H2 (vợ của ông Lâm Việt H) khai nhận số tiền 47.640.000 đồng mà ông H chuyển cho ông Hà Vũ H1- Chủ doanh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

nghiệp tư nhân xăng dầu Đức A là tiền riêng của ông H, bà không biết về số tiền này và cũng không liên quan đến số tiền này. Bà yêu cầu Tòa án không đưa bà vào tham gia vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Căn cứ khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không đưa bà Bã Thị Thanh H2 vào tham gia tố tụng trong vụ án này.

[4] Về việc thay đổi, rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn là ông Hà Vũ H1 và bà Lâm Bạch T1 trả số tiền 4.000 đô la Mỹ tương đương 96.000.000 đồng. Xét việc rút yêu cầu của nguyên đơn là tự nguyện nên căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đã rút.

Nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, từ yêu cầu buộc ông Hà Vũ H1- Chủ doanh nghiệp tư nhân X trả số tiền 50.000.000 đồng bằng yêu cầu buộc ông Hà Vũ H1- Chủ doanh nghiệp tư nhân X trả số tiền 47.640.000 đồng. Xét việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên căn cứ khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng.

[5].Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn là ông Hà Vũ H1 - Chủ doanh nghiệp tư nhân X trả số tiền là 47.640.000 đồng và không yêu cầu trả lãi, Hội đồng xét xử thấy:

Căn cứ Giấy nộp tiền kiêm ủy nhiệm chuyển tiền và Phiếu thu dịch cụ kiêm hóa đơn ngày 31/7/2006 của Ngân hàng TMCP C thì ông Lâm Việt H có chuyển số tiền 47.640.000 đồng cho doanh nghiệp tư nhân X.

Căn cứ kết quả cung cấp tài liệu, chứng cứ ngày 22/02/2023 của Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh C kèm theo bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh doanh nghiệp tư nhân; Thông báo về việc doanh nghiệp giải thể/chấm dứt tồn tại; Quyết định về việc thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì ông Hà Vũ H1 là chủ Chủ doanh nghiệp tư nhân X. Căn cứ Điều 188 Luật Doanh nghiệp thì ông Hà Vũ H1 phải tử chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Bị đơn là ông Hà Vũ H1 khai ông không còn nợ nguyên đơn nhưng không giao nộp được tài liệu, chứng cứ chứng minh ông đã thanh toán khoản nợ 47.640.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự nên không có cơ sở chấp nhận lời khai nại của bị đơn. Do bị đơn chưa trả nguyên đơn số tiền 47.640.000 đồng nên căn cứ Điều 466, khoản 2 Điều 469 Bộ luật Dân năm 2015, nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn trả tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán nên căn cứ khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

[6]. Đối với phần phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã nhận định đúng về thủ tục tố tụng, phân tích đúng nội dung của vụ án. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh về việc giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật và có cơ sở chấp nhận.

[7]. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là ông Hà Vũ H1 phải chịu án phí là 2.382.000 đồng.

Nguyên đơn được hoàn tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 357, Điều 468 và khoản 2 Điều 469 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 188 Luật Doanh nghiệp; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1.Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Lâm Việt H: Buộc ông Hà Vũ H1 phải trả cho ông Lâm Việt H số tiền là 47.640.000 đồng (Bốn mươi bảy triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng), thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

Kể từ ngày ông Lâm Việt H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Hà Vũ H1 không thi hành xong khoản tiền nêu trên, thì ông Hà Vũ H1 còn phải chịu thêm tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán.

2. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Lâm Việt H về việc buộc bị đơn là ông Hà Vũ H1 và bà Lâm Bạch T1 trả số tiền 4.000 đô la Mỹ tương đương 96.000.000 đồng.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hà Vũ H1 phải chịu án phí là 2.382.000 đồng (Hai triệu ba trăm tám mươi hai nghìn đồng).

Hoàn tiền tạm ứng án phí là 3.650.000 đồng (Ba triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0018764 ngày 02/10/2022 của cơ quan Thi hành án quận B cho ông Lâm Việt H.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒ

5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự,
  • - TAND Tp.Hồ Chí Minh,
  • - VKSND Q.Bình Thạnh,
  • - Chi cục THADS Q.Bình Thạnh,
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 496/2024/DS - ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 496/2024/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger