TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 496/2025/DS-PT Ngày: 18 – 12 - 2025 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn A Đam
Các Thẩm phán: Ông Trương Thanh Dũng
Ông Đặng Minh Trung
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Thế Bắc là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Trương Trung Tín - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 430/2025/TLPT-DS ngày 29 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số:127/2025/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau bị kháng cáo.
- Nguyên đơn:
- Ông Ngô Ka T, sinh năm: 1969 (có mặt).
- Bà Lê Mỹ N, sinh năm: 1971(có mặt).
Cùng địa chỉ: Khóm D, xã C, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn:
- Ông Võ Văn T1, sinh năm: 1963 (có mặt).
- Bà Nguyễn Kim T2, sinh năm: 1965 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Khóm C, xã C, tỉnh Cà Mau.
Người kháng cáo: Ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Kim T2 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại tòa nguyên đơn ông Ngô Ka T, bà Lê Mỹ N trình bày:
Vào ngày 02/11/2022 (âm lịch) ông Ngô Ka T, bà Lê Mỹ N cho ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Kim T2 vay số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm chục triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 02%/ tháng, thời hạn vay đến ngày 02/5/2023. Cùng ngày 02/11/2022 (âm lịch) ông Ngô Ka T, bà Lê Mỹ N tiếp tục cho ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Kim T2 vay số tiền 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 02%/ tháng. Ngày 15/12/2022 (dương lịch), ông Ngô Ka T, bà Lê Mỹ N cho ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Kim T2 vay số tiền 750.000.000 đồng (bảy trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn vay 12 tháng, lãi suất tự thỏa thuận. Hai bên có làm hợp đồng vay, có chứng thực. Ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Kim T2 có thế chấp cho ông T, bà N 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: BL651601, thửa dất số 46, tờ bản đồ số 25, diện tích 168,3m², tên Võ Văn T1, Nguyễn Kim T2, do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 06/02/2013. Từ ngày vay tiền đến nay ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Kim T2 chưa trả tiền vốn, lãi. Ông T, bà N không đồng ý với lời trình bày của ông T1, bà T2 cho rằng biên nhận vay 150.000.000 đồng là tiền lãi và số tiền vay 75.000.000 đồng là khoản tiền vốn vay, các khoảng vay không có tính dồn vào số tiền vay 750.000.000 đồng; việc bà T2, ông T1 cho rằng có trả tiền lãi 45.000.000 đồng là không đúng. Tại phiên tòa nguyên đơn ông Ngô Ka T, bà Lê Mỹ N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Kim T2 trả số tiền vốn 975.000.000 đồng (Chín trăm bảy mươi lăm triệu đồng) và tiền lãi 20%/năm, tính từ ngày vay đến ngày xét xử 19/8/2025 là 524.666.000 đồng (Năm trăm hai mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng). Tổng tiền vốn, lãi 1.499.666.000 đồng (Một tỷ bốn trăm chín mươi chín triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
Tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Kim T2 trình bày:
Bà T2 thừa nhận có vay tiền của ông T, bà N, thời gian vay tiền cụ thể thì bà không nhớ. Đối với số tiền vay ngày 02/11/2022 (âm lịch) vay số tiền 150.000.000 đồng là tiền lãi, nhưng khi viết biên nhận nợ là tiền vay, còn đối với số tiền vay ngày 02/11/2022 (âm lịch) vay số tiền 75.000.000 đồng là nhận bằng tiền mặt. Sau đó bà T2, ông T1 có làm hợp đồng vay tiền của ông T, bà N số tiền 750.000.000 đồng, có công chứng, chứng thực, có thế chấp 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Kim T2 đứng tên. Khi làm hợp đồng vay số tiền 750.000.000 đồng thì ông T, bà N đã đối trừ xong số tiền vay 75.000.000 đồng và tính thêm 01 năm tiền lãi nên bà chỉ nhận tiền mặt 290.000.000 đồng. Sau đó bà T2 có trả tiền lãi cho bà N số tiền 45.000.000 đồng. Bà Nguyễn Kim T2 đồng ý trả cho nguyên đơn ông Ngô Ka T, bà Lê Mỹ N số tiền 290.000.000 đồng.
Tại phiên tòa bị đơn ông Võ Văn T1 trình bày: Ông T1 thừa nhận có vay ông T, bà N số tiền 750.000.000 đồng và có thế chấp cho ông T, bà N 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: BL651601, thửa dất số 46, tờ bản đồ số 25, diện tích 168,3m², tên Võ Văn T1, Nguyễn Kim T2, do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 06/02/2013, có công chứng hợp đồng vay. Ông chỉ nhận được số tiền 290.000.000 đồng, ông không thừa nhận có vay ông T, bà N số tiền 75.000.000 đồng và vay số tiền 150.000.000 đồng như bà N trình bày. Ông T1 đồng ý trả cho nguyên đơn ông Ngô Ka T, bà Lê Mỹ N số tiền 290.000.000 đồng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 127/2025/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau quyết định:
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Ngô Ka T, bà Lê Mỹ N, buộc bị đơn ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Kim T2 trả cho ông T, bà N số tiền vốn 975.000.000 đồng, tiền lãi 524.666.000 đồng, tổng 1.499.666.000 đồng (Một tỷ bốn trăm chín mươi chín triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
Ông Ngô Ka T, bà Lê Mỹ N có trách nhiệm trả lại cho ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Kim T2 01giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BL651601, thửa dất số 46, tờ bản đồ số 25, diện tích 168,3m², tên Võ Văn T1, Nguyễn Kim T2, do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 06/02/2013.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 03/9/2025, ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Kim T2 có đơn kháng cáo, không đồng ý trả cho ông Ngô Ka T, bà Lê Mỹ N số tiền vốn là 975.000.000 đồng, tiền lãi là 524.666.000 đồng. Do sơ xuất và tin tưởng không xé biên nhận vay số tiền 150.000.000 đồng và 75.000.000 đồng, nên ông T, bà N gộp vào biên nhận 750.000.000 đồng và tiền lãi đóng trước một năm là 198.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị đơn Võ Văn T1, Nguyễn Kim T2 trình bày: Trong biên nhận vay số tiền 750.000.000 đồng nguyên đơn ông Ngô Ka T, bà Lê Mỹ N đã gộp số tiền 150.000.000 đồng và 75.000.000 đồng vào, lý do là tin tưởng nhau nên không xé biên nhận số tiền 150.000.000 đồng và 75.000.000 đồng. Do đó, yêu cầu đối trừ số tiền nợ gốc là 225.000.000 đồng và một năm lãi đã đóng 198.000.000 đồng.
- - Nguyên đơn ông Ngô Ka T, bà Lê Mỹ N không đồng ý với nội dung kháng cáo của các bị đơn, bởi lẽ: Việc các bị đơn Võ Văn T1, Nguyễn Kim T2 vay nợ chúng tôi có làm biên nhận đầy đủ, khi trả thì chúng tôi trả giấy nợ lại. Ông T1, bà T2 vay số tiền 150.000.000 đồng và 75.000.000 đồng vào ngày 02/11/2022 âm lịch, còn đối với số tiền vay 750.000.000 đồng tôi cho vay ngày 21/11/2022 âm lịch có công chứng. Ông T1, bà T2 cho rằng do tin tưởng không nhận lại biên nhận là không đúng do đây là số tiền lớn và cho vay trước số tiền 750.000.000 đồng.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.
- Về nội dung: Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn ông Võ Văn T1 và bà Nguyễn Kim T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của người tham gia tố tụng, của Kiểm sát viên, HĐXX nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Kim T2 trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu đơn khởi kiện, đồng ý với bản án sơ thẩm. Đối với các căn cứ kháng cáo bị đơn trình bày tại phiên toà nguyên đơn không đồng ý, yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Xét thấy, tại phiên toà các bị đơn Võ Văn T1, Nguyễn Kim T2 giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm.
[4] Qua xem xét các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ, lời trình bày về căn cứ kháng cáo của bị đơn tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Kim T2 thừa nhận vào ngày 02/11/2022 âm lịch có vay của ông Ngô Ka T, bà Lê Mỹ N số tiền 150.000.000 đồng. Cùng ngày 02/11/2022 âm lịch ông T1, bà T2 vay thêm số tiền 75.000.000 đồng. Đến ngày 15/12/2022 dương lịch, ông Ngô Ka T, bà Lê Mỹ N cho ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Kim T2 vay số tiền 750.000.000 đồng, có làm hợp đồng vay tiền, có công chứng hợp đồng vay; ông T1, bà T2 có thế chấp cho ông T, bà N 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất do mình đứng tên.
Xét lời trình bày của các bị đơn ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Kim T2 cho rằng hợp đồng vay ngày 15/12/2022 vay số tiền 750.000.000 đồng đã đối trừ xong số tiền vay 75.000.000 đồng, số tiền vay ngày 02/11/2022 là 150.000.000 đồng và tính thêm 01 năm tiền lãi 198.000.000 đồng. Qua xem xét các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự tại phiên toà thể hiện, nguyên đơn cung cấp 02 biên nhận vay tiền của các bị đơn ngày 02/11/2022 âm lịch nội dung thể hiện là ông T1, bà T2 vay một biên nhận số tiền 150.000.000 đồng, một biên nhận 75.000.000 đồng, không thể hiện nội dung số tiền 150.000.000 đồng là tiền lãi; đối với hợp đồng vay ngày 15/12/2022 dương lịch với số tiền 750.000.000 đồng có công chứng, nội dung thể hiện ông T1, bà T2 vay số tiền trên và có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do các bị đơn đứng tên, không có nội dung thể hiện gộp số tiền 150.000.000 đồng, số tiền 75.000.000 đồng và một năm tiền lãi là 198.000.000 đồng như ông T1, bà T2 trình bày. Tại phiên tòa, các bị đơn không cung cấp thêm chứng cứ gì để chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn không thống nhất với lời trình bày của các bị đơn. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị đơn ông Võ Văn T1 và bà Nguyễn Kim T2.
Từ các nhận định trên xét thấy, án sơ thẩm đã xem xét, đánh giá chứng cứ có căn cứ pháp luật nên các căn cứ kháng cáo của bị đơn không có cơ sở chấp nhận. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên cần buộc bị đơn bà Nguyễn Kim T2, ông Võ Văn T1 trả cho nguyên đơn ông Ngô Ka T, bà Lê Mỹ N số tiền vốn 975.000.000 đồng (Chín trăm bảy mươi lăm triệu đồng) và tiền lãi 524.666.000 đồng (Năm trăm hai mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng). Tổng tiền vốn, lãi 1.499.666.000 đồng (Một tỷ bốn trăm chín mươi chín triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) là có căn cứ pháp luật. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp nên chấp nhận.
[5] Án phí phúc thẩm ông T1, bà T2 được miễn do là người cao tuổi.
[6] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Kim T2; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 127/2025/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Ngô Ka T, bà Lê Mỹ N, buộc bị đơn ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Kim T2 trả cho ông T, bà N số tiền vốn 975.000.000 đồng, tiền lãi 524.666.000 đồng, tổng 1.499.666.000 đồng (Một tỷ bốn trăm chín mươi chín triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
- Ông Ngô Ka T, bà Lê Mỹ N có trách nhiệm trả lại cho ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Kim T2 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BL651601, thửa đất số 46, tờ bản đồ số 25, diện tích 168,3m², tên Võ Văn T1, Nguyễn Kim T2, do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 06/02/2013.
- Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn không thi hành xong khoản tiền trên, thì phải chịu khoản tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Ngô Ka T, bà Lê Mỹ N có nộp tạm ứng án phí số tiền 8.625.000 đồng, theo biên lai thu số 0003516 ngày 07 tháng 11 năm 2024; và dự nộp số tiền 300.000 theo biên lai thu số 0003887 ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân (nay là Thi hành án dân sự tỉnh C) được hoàn lại. Bị đơn không phải chịu án phí thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định.
- Án phí dân sự phúc thẩm ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Kim T2 được miễn do là người cao tuổi.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền nêu trên, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu khoản lãi phát sinh tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Đặng Minh Trung Trương Thanh Dũng | Nguyễn A Đam |
Bản án số 496/2025/DS-PT ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 496/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Ngô Ka Tê yêu cầu ông Võ Văn Thắng và vợ trả cho ông số tiền vay 975.000.000 đồng và lãi theo quy định của pháp luật.
