Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 496/2024/DS-PT

Ngày: 12/8/2024

V/v Yêu cầu thực hiện

nghĩa vụ bảo lãnh.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Tuyết Băng
Các thẩm phán: Bà Trần Thị Liên Anh
Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Ly – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Bà Nguyễn Bách Thiện Linh, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 12 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 255/2024/TLPT-DS ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2024/DS-ST ngày 28/03/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 35/2024/QĐ-PT ngày 18/7/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 456/2024/QĐPT-HPT ngày 06/8/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Minh T, sinh năm 1955; Địa chỉ: số A ngõ B B, quận L, thành phố Hà Nội; Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thu H, bà Nguyễn Thanh B. (Có mặt ).

- Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ; Địa chỉ: Tầng G, Tòa nhà S, A P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Ông Lương Thành L, chức vụ - Tổng Giám đốc.Đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Thành V; Ông Vũ Nghị L1; Bà Cao Thị Ngọc M; Bà Nguyễn Kiều O. (Giấy uỷ quyền số 08//2024/GUQ-KSFINANCE ngày 05/02/2024). Bà Cao Thị Ngọc M. ( Vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần P1; Địa chỉ: Tầng I, Tòa nhà S, A P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Văn T1, chức vụ - Tổng Giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Trà M1; Ông Nguyễn Văn K; Bà Đỗ Thị N; Bà Lưu Ngọc Á. (Văn bản uỷ quyền số 10//2024/UQ-SSG ngày 26/02/2024). Bà Lưu Thị Ngọc Á1. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và Đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu đơn khởi kiện ngày 25/01/2024, quá trình giải quyết vụ án, bà Đỗ Thị Minh T, có đại diện theo uỷ quyền trình bày: Thông qua mối quan hệ xã hội, bà Đỗ Thị Minh T có ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với Công ty Cổ phần Đ, sau đây gọi tắt là Công ty K1. Theo Hợp đồng hợp tác kinh doanh số: IHRH00243172 ngày 25/10/2022, giữa bà Đỗ Thị Minh T với Công ty K1, về nội dung cơ bản ghi nhận khoản tiền gửi của bà T là “vốn góp” cho Dự án S (Điều 5 - Phần A, Điều 1 - Phần B của Hợp đồng), giá trị khoản đầu tư của bà T là 962.000.000đồng. Thời hạn đầu tư là 29 ngày kể từ ngày 25/10/2022 đến ngày 23 11/2022. Phân chia kết quả kinh doanh: Lợi nhuận cố định áp dụng và tính trên Khoản đầu tư là 6,8% năm ( trên cơ sở tính một năm bằng 365 ngày), tính từ ngày bà T chuyển đủ Giá trị Khoản đầu tư đến ngày bên bà T nhận lại Khoản đầu tư gốc. Thời điểm chi trả lợi nhuận là 29 ngày. Công ty K1 sẽ thực hiện khấu trừ một phần tiền tương đương 5% lợi nhuận mà bên bà T được hưởng đối với khoản lãi đầu tư mà bà T được hưởng. Ngoài ra bà T còn được thưởng đối với việc thực hiện tốt hợp đồng là 0,2%/năm tính trên số tiền đầu tư tại cuối thời hạn thanh toán (theo Phụ lục 02). ...Nếu các bên có tranh chấp sự việc thì có thể khởi kiện giải quyết tại Toà án theo quy định của pháp luật.

Kèm theo Hợp đồng hợp tác kinh doanh này là thư bảo lãnh ngày 25/10/2023 của Công ty cổ phần P1 cam kết thanh toán cho bà T trong trường hợp Công ty K1 không có khả năng thanh toán. Thư bảo lãnh trên đã hết hiệu lực nên Công ty cổ phần P1 phát hành thêm thư bảo lãnh ngày 03/01/2023, có hiệu lực từ ngày phát hành cho đến khi toàn bộ nghĩa vụ được bảo lãnh đã được thực hiện hoặc giải trừ đầy đủ.

Đến ngày 23/11/2022, bà T đã yêu công ty Đ hoàn trả tiền gốc và các khoản lợi nhuận đầu tư theo hợp đồng nhưng chỉ được bà Nguyễn Thị Ánh T2 đại diện Công ty tiếp và ghi nhận lại bằng một Biên bản làm việc. Sau đó Công ty Đ đã đơn phương ra rất nhiều thông báo gia hạn thanh toán, càng ngày càng kéo dài hơn, ban đầu là 06 tháng và đến hiện tại là 12 tháng. Vào trung tuần tháng 03/2023, ứng dụng KSFinance đột nhiên trừ hết toàn bộ số tiền lãi quá hạn. Như vậy, Công ty Đ đã chiếm dụng vốn của bà T thêm 05 tháng và toàn bộ số tiền lãi trong 05 tháng đó đã không còn hiển thị trên ứng dụng, chỉ còn hiển thị số lãi của 29 ngày như trong hợp đồng.

Nay, căn cứ vào tình hình thực tế và những thỏa thuận tại Hợp đồng, bà Đỗ Thị Minh T khẳng định Công ty Đ đã vi phạm các vấn đề sau:

  • Thứ nhất: Công ty Đ đã vi phạm nghiêm trọng về thời hạn hợp tác đã thỏa thuận theo Điều 2 - Phần A - Hợp đồng hợp tác kinh doanh; “Khoản Đầu Tư” của bà T đều đã quá thời hạn nhưng mà Công ty Đ vẫn không thực hiện theo cam kết, Hợp đồng bị đơn phương kéo dài.
  • Thứ hai: Công ty Đ đã vi phạm quyền lợi của bà T về việc chậm thực hiện nghĩa vụ “phân chia kết quả kinh doanh” và không hoàn trả “khoản tiền đầu tư gốc” theo Điều 3 -Phần A và Điều 3 - Phần B - Hợp đồng hợp tác kinh doanh. Hành vi của Công ty Đ là hành vi chiếm dụng vốn đầu tư quá thời hạn của bà T. Bà T chưa xem xét đến góc độ có chiếm dụng vốn trái phép hay không, nhưng rõ ràng việc giữ tiền của bà T đến giờ phút này là Công ty Đ đã trực tiếp gây ra thiệt hại về mặt tài chính rất lớn cho bà T, ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng tiền của bà T trong suốt thời gian vừa qua.
  • Thứ ba: Công ty Đ mời chào khách hàng giao dịch qua ứng dụng, lập các Hợp đồng và quản lý thông qua ứng dụng KSFinance. Bà T không biết ứng dụng này đã được đăng ký hợp pháp hay chưa, nhưng cách mà Công ty Đ đang sử dụng ứng dụng này thì có vấn đề vi phạm. Hiện tại các Hợp đồng được lập, ký qua ứng dụng, quá trình chúng bà T gửi tiền vào thì không sao, nhưng đến khi rút ra thì lệnh rút lại không thể thực hiện. Bà T cho rằng, Công ty Đ đã có hành vi can thiệp thiếu khách quan, minh bạch vào các khoản tiền gửi của bà T, cụ thể là hành vi trừ tiền lãi quá hạn, đóng băng lệnh rút tiền. Rõ ràng các giao dịch gửi tiền này ban đầu được cam kết là linh hoạt, thực hiện rút bất cứ lúc nào. Nhưng đến nay thì không thể thao tác được nữa.
  • Thứ tư: Hơn nữa, nói là gửi tiền đầu tư, nhưng thời hạn gửi tiền lại rất ngắn ngủi, vỏn vẹn có 29 ngày, trong khi các Dự án thì phải kéo dài tính theo năm. Vậy đương nhiên thời gian đó mang tiền đi đầu tư là không hề song hành với tiến trình của cả một Dự án, điều gì có thể đảm bảo được sau một tháng đó tiền sẽ về lại tay chúng bà T, đây có thể được coi là hành vi lừa đảo nhằm chiếm dụng, sử dụng và chiếm đoạt tài sản?

Vì vậy, bà Đỗ Thị Minh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc: Công ty Cổ phần Đ có nghĩa vụ thanh toán cho bà T số tiền sau: Nợ gốc: 962.000.000 đồng (chín trăm sáu mươi hai triệu đồng).

Phần lợi nhuận từ ngày 25/10/2022 đến ngày 23/11/2022 (mức lãi suất 6,8%/năm) đã trừ phần thuế thu nhập 5% (259.872 đồng) (theo Phụ lục 01) là: 4.937.564 đồng (bốn triệu chín trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm sáu mươi bốn đồng). Phần lợi ích 0,2%/năm tính trên số tiền đầu tư tại cuối thời hạn (theo Phụ lục 02) là: 152.865 đồng (một trăm năm mươi hai nghìn tám trăm sáu mươi lăm đồng). Lãi do chậm thanh toán kể từ ngày 24/11/2022 cho đến khi thực thanh toán xong nợ với mức lãi suất 10%/năm (=150% lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng), tính đến ngày Toà án xét xử 28/03/2024 là: 114.478.000 đồng (một trăm mười bốn triệu bốn trăm bảy mươi tám nghìn đồng). Tổng số tiền yêu cầu là: 1.076.630.865 đồng.

Trường hợp Công ty Cổ phần Đ không thanh toán thì buộc Công ty Cổ phần P1 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, thanh toán ngay cho bà Đỗ Thị Minh T toàn bộ số tiền trên theo Chứng thư bảo lãnh ngày 25/10/2022 và Thư bảo lãnh số IHRH 00243172/BL ngày 03/01/2023 của Công ty Cổ phần P1 đối với khoản đầu tư của bà Đỗ Thị Minh T tại Công ty Cổ phần Đ.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện Công ty cổ phần Đ trình bày:

Công ty Cổ phần Đ thừa nhận ngày 25/10/2022, Công ty Cổ phần Đ và bà Đỗ Thị Minh T có thỏa thuận ký kết các Hợp đồng hợp tác kinh doanh với các nội dung cơ bản như bên bà Đỗ Thị Minh T có đại diện uỷ quyền đã trình bày là đúng. Đến nay, Công ty Cổ phần Đ thừa nhận còn nợ bà Đỗ Thị Minh T các khoản bao gồm: Nợ gốc: 962.000.000 đồng (chín trăm sáu mươi hai triệu đồng), theo Hợp đồng hợp tác đầu tư. Phần lợi nhuận từ ngày 25/10/2022 đến ngày 23/11/2022 (mức lãi suất 6,8%/năm) đã trừ phần thuế thu nhập 5% (259.872 đồng) (theo Phụ lục 01) là: 4.937.564 đồng (bốn triệu chín trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm sáu mươi bốn đồng). Phần lợi ích 0,2%/năm tính trên số tiền đầu tư tại cuối thời hạn (theo Phụ lục 02) là: 152.865 đồng (một trăm năm mươi hai nghìn tám trăm sáu mươi lăm đồng). Đối với lãi do chậm thanh toán kể từ ngày 24/11/2022 cho đến ngày Toà án xét xử 28/03/2024 là: 114.478.000 đồng (một trăm mười bốn triệu bốn trăm bảy mươi tám nghìn đồng), theo yêu cầu tính lãi chậm thanh toán của bên nguyên đơn thì bị đơn cho rằng các bên khong thoả thuận về lãi sau khi hết hạn hợp đồng.

Tuy nhiên, trong giai đoạn từ Quý IV năm 2022 đến nay, do sự suy thoái chung của nền kinh tế toàn cầu, thị trường bất động sản trong nước đóng băng, chính sách siết chặt tín dụng của các Ngân hàng đã khiến cho các công ty bất động sản gặp rất nhiều khó khăn (không chỉ riêng KSF và các Chủ đầu tư dự án bất động sản mà Công ty K1 có quan hệ hợp tác, đầu tư), trực tiếp gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn thu và dòng tiền của Công ty K1.

Vì vây, Công ty K1 chưa có khả năng thanh toán ngay cho bà Đỗ Thị Minh T theo đúng thỏa thuận.

Công ty đề nghị bà Đỗ Thị Minh T các nội dung:

  1. Gia hạn thời gian thực hiện Hợp đồng thêm 24 tháng để Công ty có thể thu xếp nguồn tiền hợp lý chi trả, đồng thời Khách hàng sẽ được nhận thêm một khoản lợi nhuận bổ sung theo thỏa thuận của các bên.
  2. Chuyển đổi giá trị khoản tiền đầu tư sang thành khoản thanh toán các bất động sản khác đã đủ điều kiện đưa vào kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật và ký kết Hợp đồng mua bán với Chủ đầu tư, tại các Dự án: Sunshine G, Sunshine G, Sunshine S, Sunshine D, Sunshine Capital Tây T, S, Sunshine G, Sunshine P,...nhưng phía bà T không đồng ý. Đề nghị giải quyết theo quy định cảu pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần P1, trình bày:

Xác nhận khi Công ty K1 ký Hợp đồng hợp tác đầu tư số IHRH00243172 ngày 25/10/2022, với bà Đỗ Thị Minh T thì Công ty Cổ phần P1 có phát hành Chứng thư bảo lãnh ngày 25/10/2022 và Thư bảo lãnh số IHRH 00243172/BL ngày 03/01/2023 nội dung thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, thanh toán cho bà Đỗ Thị Minh T toàn bộ số tiền gốc đầu tư và các khoản lợi nhuận đầu tư, thưởng...đối với khoản đầu tư của bà Đỗ Thị Minh T tại Công ty Cổ phần Đ. Nay nếu Công ty Cổ phần Đ không có khả năng thanh toán thì Công ty Cổ phần P1 tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ bảo lãnh theo quy định của pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 38/2024/DS-ST ngày 28/03/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm đã xử:

  1. Xác nhận Hợp đồng hợp tác kinh doanh số IHRH00243172 ngày 25/10/2022, và Phụ lục 01, Phụ lục 02) Công ty cổ phần Đ với bà Đỗ Thị Minh T có hiệu lực pháp luật.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Minh T về việc buộc Công ty cổ phần Đ phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng hợp tác kinh doanh số IHRH00243172 ngày 25/10/2022, và Phụ lục 01, Phụ lục 02) giữa Công ty cổ phần Đ với bà Đỗ Thị Minh T.
  1. Buộc Công ty cổ phần Đ phải thanh toán cho bà Đỗ Thị Minh T số tiền bao gồm: Tiền gốc 962.000.000 đồng (chín trăm sáu mươi hai triệu đồng); Tiền lợi nhuận đầu tư theo Hợp đồng đầu tư 4.937.564 đồng (bốn triệu chín trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm sáu mươi bốn đồng); Phần lợi ích 0,2%/năm tính trên số tiền đầu tư tại cuối thời hạn (theo Phụ lục 02) là: 152.865 đồng (một trăm năm mươi hai nghìn tám trăm sáu mươi lăm đồng); Tiền lãi chậm thanh toán toán từ ngày 24/11/2022 cho đến ngày Toà án xét xử 28/03/2024 là: 114.478.000 đồng (một trăm mười bốn triệu bốn trăm bảy mươi tám nghìn đồng). Tổng cộng là: 1.076.630.865 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi chậm trả của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất là 10% trên số tiền gốc phải thanh toán cho đến khi thanh toán xong tiền gốc tương ứng với thời gian thi hành án.

  1. Trường hợp Công ty cổ phần Đ không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bà Đỗ Thị Minh T các khoản tiền nêu trên thì bà Đỗ Thị Minh T có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự: Buộc Công ty cổ phần P1 phải thanh toán cho bà Đỗ Thị Minh T tổng số tiền tính đến ngày Tòa án xét xử 28/3/2024 là: 1.076.630.865 đồng (một tỉ không trăm bảy mươi sáu triệu sáu trăm ba mươi tám trăm sáu mươi năm đồng), theo Chứng thư bảo lãnh ngày 25/10/2022 và Thư bảo lãnh số IHRH 00243172/BL ngày 03/01/2023 của Công ty Cổ phần P1 đối với Hợp đồng hợp tác kinh doanh số IHRH00243172 ngày 25/10/2022 và phụ lục kèm theo giữa Công ty cổ phần Đ và bà Đỗ Thị Minh T và lãi phát sinh chậm thanh toán là 10% năm kể từ ngày 29/03/2024 trên khoản tiền gốc chưa thanh toán.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần P1 có đơn kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty cổ phần P1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự xác nhận ngoài các tài liệu đã xuất trình cho Tòa án thì không còn tài liệu chứng cứ nào khác để xuất trình cho Tòa án.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án từ thủ tục thụ lý vụ án, mở phiên tòa và tại phiên tòa xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa, đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Sau khi tóm tắt và phân tích nội dung vụ án, xét thấy căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm

Về án phí các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy:

[1]. Về tố tụng: Công ty cổ phần P1 có kháng cáo trong hạn luật định, người kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí kháng cáo. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho các đương sự, nhưng tại phiên tòa hôm nay Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung: Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng hợp tác đầu tư số: IHRH00243172 ngày 25/10/2022 và các Phụ lục hợp đồng số 01,02 giữa Công ty cổ phần Đ với bà Đỗ Thị Minh T, được các bên ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, về hình thức và nội dung của Hợp đồng đều phù hợp với quy định của pháp luật nên phát sinh hiệu lực đối với các bên.

Quá trình thực hiện hợp đồng ngày 25/10/2022 bà T đã chuyển khoản cho Công ty Đ số tiền 962.000.000 đồng.

Ngày 25/10/2022, Công ty Cổ phần P1 ban hành thư bảo lãnh với nội dung: “Xét rằng, Bên Nhận Bảo Lãnh và Công ty Cổ phần Đ – Mã số doanh nghiệp: 0109519890 (do Sở K2 cấp đăng ký lần đầu ngày 03/02/2021)....(Sau đây gọi tắt là “Bên Được Bảo Lãnh”) đã ký kết Hợp đồng số: ITLH00243172 ngày 25/10/2022 và các Phụ lục kèm theo (sau đây gọi tắt là “Hợp đồng”). Xét thấy thư bảo lãnh của Công ty cổ phần T3 về hình thức và nội dung đều phù hợp với quy định của pháp luật nên phát sinh hiệu lực đối với các bên.

Theo thỏa thuận tại Hợp đồng hợp tác đầu tư số: ITLH00243172 ngày 25/10/2022 và các Phụ lục hợp đồng giữa Công ty cổ phần Đ với bà Đỗ Thị Minh T thì thời hạn đầu tư tính từ ngày 25/10/2022 đến ngày 23/11/2022 là 06 tháng, lãi suất đầu tư là 6,8% năm.

Sau khi hết thời hạn đầu tư, bà T đã nhiều lần yêu cầu Công ty cổ phần Đ phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bà nhưng Công ty cổ phần Đ viện dẫn lý do Công ty chưa có tiền để thanh toán và xin các biện pháp gia hạn nhưng không được bà T đồng ý.

Tại phiên toà sơ thẩm, Công ty Cổ phần P1 thừa nhận Công ty đã phát hành Chứng thư bảo lãnh ngày 25/10/2022 và thư bảo lãnh số IHRH 00243172/LB ngày 03/01/2023 đối với khoản đầu tư của bà T tại Công ty Cổ phần Đ. Nay trường hợp Công ty cổ phần Đ không có khả năng thanh toán cho bà T các khoản tiền bà T yêu cầu theo Hợp đồng hợp tác đầu tư số: ITLH00205868 ngày 25/10/2022 và các Phụ lục kèm theo thì Công ty Cổ phần P1 sẽ thực hiện các nghĩa vụ bảo lãnh theo Chứng thư bảo lãnh ngày 25/10/2022. Từ những căn cứ trên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T buộc Buộc Công ty cổ phần Đ phải thanh toán cho bà T số tiền bao gồm: Tiền gốc 962.000.000 đồng Trường hợp Công ty cổ phần Đ không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bà T khoản tiền trên thì bà T có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền buộc Công ty cổ phần T4 phải thanh toán số tiền trên cho bà T theo chứng thư bảo lãnh ngày 25/10/2022 là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

+ Đối với yêu cầu tính lãi chậm thanh toán của Nguyên đơn: xét thấy quá trình giải quyết nguyên đơn đề nghị buộc Công ty cổ phần Đ phải thanh toán tiền lãi do chậm thanh toán kể từ ngày 24/11/2022 cho đến ngày Toà án xét xử sơ thẩm là 28/03/2024 với mức lãi suất là 10% năm và mức lãi suất này cũng được tính cho đến khi Công ty cổ phần Đ thanh toán xong khoản tiền gốc do bà T đầu tư là 114.478.000 đồng. Tại phiên toà sơ thẩm Công ty cổ phần Đ không có tranh chấp khoản tiền lãi này, đồng ý với mức lãi chậm trả nêu trên của bà T. Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu này của Nguyên đơn buộc Công ty cổ phần Đ phải thanh toán cho bà T tiền lãi chậm trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 114.478.000 đồng. Trường hợp Công ty cổ phần Đ không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bà T khoản tiền trên thì bà T có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền buộc Công ty cổ phần P1 phải thanh toán số tiền trên cho bà T theo chứng thư bảo lãnh ngày 25/10/2022 là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Từ những căn cứ trên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là công ty cổ phần P1.

Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận, nên Công ty cổ phần T4 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Giữ nguyên bản án Dân sự sơ thẩm số 38/2024/DS-ST ngày 28/03/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
  2. Về án phí phúc thẩm: Công ty cổ phần P1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí công ty đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009610 ngày 24/4/2024 của Chi cục thi hành án quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
  3. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  4. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhân:

  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - TAND quận Nam Từ Liêm;
  • - Chi cục THADS quận Nam Từ Liêm;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Tuyết Băng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 496/2024/DS-PT ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

  • Số bản án: 496/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T - CT KS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger