|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 4954/2024/KDTM-ST
Ngày: 30/9/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Lượng
- Bà Nguyễn Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Võ Cao Hùng - Kiểm sát Viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 252/2023/TLST-KDTM ngày 02/10/2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6538/2024/QĐXXST-KDTM ngày 09 tháng 8 năm 2024, và Quyết định hoãn phiên toà số 7551/2024/QĐST-KDTM ngày 04/9/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
Trụ sở: H L, phường L, quận Đ, Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Thanh H (Văn bản ủy quyền số 11490/2024/UQN-PGĐ ngày 30/9/2024 - Có mặt)
Địa chỉ: Tầng A, số I C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh)
- Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1 (Vắng mặt)
Trụ sở: Số G Đường số A, Khu dân cư P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1991
Địa chỉ thường trú: 343/44 Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: 343/44 Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Hoàng Thị Thúy C, sinh năm 1985 (Vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: T, A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ tạm trú: 343/44 Khu phố C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (sau đây gọi tắt là: Ngân hàng) có người đại diện theo uỷ quyền ông Hoàng Thanh H trình bày:
Ngày 18 tháng 6 năm 2021, Công ty T1 ký với Ngân hàng Hợp đồng cho vay hạn mức số: H09/21380. Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh.
Ngày 28/12/2021, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty T1 vay số tiền 950,000,000 đồng theo khế ước nhận nợ số: 281221-5866589-ONL-1. Thời hạn cho vay: 06 tháng, tính từ ngày 28/12/2021 đến ngày 10/6/2022. Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân: 17%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn sẽ được cố định trong vòng 01 tháng, kể từ ngày giải ngân đầu tiền. Hết thời hạn 01 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 28/01/2022. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Lãi suất chậm trả 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả.
Khoản vay trên được bảo lãnh thanh toán bằng toàn bộ tài sản cá nhân của ông Nguyễn Thanh T và bà Hoàng Thị Thúy C theo Hợp đồng bảo lãnh số: H09/21381 và Hợp đồng bảo lãnh số: H09/21381.01 đã được ký kết giữa Ngân hàng và ông T, bà C vào ngày 18/6/2021.
Trong quá trình sử dụng vốn vay, Công ty T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, cụ thể: Tạm tính đến ngày 30/9/2024, bị đơn mới chỉ thanh toán được cho nguyên đơn tổng cộng số tiền 58,773,734 đồng, trong đó gồm: Tiền gốc: 7 đồng, tiền lãi 58,773,727 đồng. Hiện bị đơn còn nợ 1,534,899,289 đồng, trong đó gồm: Nợ gốc 949,999,993 đồng, nợ lãi trong hạn 7,388,584 đồng, nợ lãi quá hạn 575,802,229 đồng, nợ lãi chậm trả 1,708,483 đồng.
Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ trên và tiền lãi tiếp tục phát sinh từ ngày 01/10/2024 trên số dư nợ gốc cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất được quy định tại hợp đồng mà các bên đã ký kết.
Trong trường hợp Công ty T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ thì yêu cầu ông Nguyễn Thanh T và bà Hoàng Thị Thúy C phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ trên thay cho Công ty T1 theo Hợp đồng bảo lãnh số: H09/21381 và Hợp đồng bảo lãnh số: H09/21381.01 đã được ký kết giữa Ngân hàng và ông T, bà C vào ngày 18/6/2021.
* Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh T và bà Hoàng Thị Thúy C đã được Toà án tống đạt hợp lệ để tham gia tố tụng tại Toà án nhưng đều vắng mặt nên Toà án không thể lấy lời khai của các đương sự trên được.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành tố tụng từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được công khai tại phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, được xem xét tại phiên toà cùng lời khai của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1 có địa chỉ trụ sở tại số G Đường số A, Khu dân cư P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh T và bà Hoàng Thị Thúy C đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên toà nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[2] Về nội dung:
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán khoản vay và tiền nợ lãi phát sinh:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng nộp, có cơ sở để khẳng định giữa nguyên đơn và Công ty T1 đã phát sinh quan hệ vay tài sản. Thực hiện hợp đồng, Công ty T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng, cụ thể: Tạm tính đến ngày 30/9/2024, bị đơn mới chỉ thanh toán được cho nguyên đơn tổng cộng 58,773,734 đồng, trong đó gồm: Tiền gốc: 7 đồng, tiền lãi 58,773,727 đồng. Hiện bị đơn còn nợ 1,534,899,289 đồng, trong đó gồm: Nợ gốc 949,999,993 đồng, nợ lãi trong hạn 7,388,584 đồng, nợ lãi quá hạn 575,802,229 đồng, nợ lãi chậm trả 1,708,483 đồng.
Do hợp đồng vay đã hết thời hạn thanh toán, việc nguyên đơn chuyển khoản nợ sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty T1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ trên.
Công ty T1 phải có nghĩa vụ thanh toán khoản tiền lãi tiếp tục phát sinh trên số dư nợ gốc kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ theo mức lãi suất quá hạn được quy định tại Hợp đồng cho vay hạn mức số: H09/21380 ngày 18/6/2021 và Khế ước nhận nợ số: 281221-5866589-ONL-1 ngày 28/12/2024 đã được ký kết giữa Ngân hàng và Công ty T1.
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Nguyễn Thanh T, bà Hoàng Thị Thúy C phải có nghĩa vụ thanh toán khoản vay trong trường hợp Công ty T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng:
Căn cứ để Ngân hàng yêu cầu ông T, bà C phải thực hiện nghĩa vụ là Hợp đồng bảo lãnh số: H09/21381 và Hợp đồng bảo lãnh số: H09/21381.01 đã được ký kết giữa Ngân hàng và ông T, bà C vào ngày 18/6/2021. Khoản vay của Công ty T1 đã đến hạn thanh toán nhưng bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy, Ngân hàng có quyền được yêu cầu bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh theo quy định tại Điều 339 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty T1 phải chịu án phí sơ thẩm trên số tiền có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng.
Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 186, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 339 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 3, Điều 4, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền nợ tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 1,534,899,289 đồng, trong đó gồm: Nợ gốc 949,999,993 đồng, nợ lãi trong hạn 7,388,584 đồng, nợ lãi quá hạn 575,802,229 đồng, nợ lãi chậm trả 1,708,483 đồng.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1 phải có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi tiếp tục phát sinh trên số dư nợ gốc kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ theo mức lãi suất quá hạn được được quy định tại Hợp đồng cho vay hạn mức số: H09/21380 ngày 18/6/2021 và Khế ước nhận nợ số: 281221-5866589-ONL-1 ngày 28/12/2024 đã được ký kết giữa Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ông Nguyễn Thanh T, bà Hoàng Thị Thúy C phải có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trên cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V theo Hợp đồng bảo lãnh số: H09/21381 và Hợp đồng bảo lãnh số: H09/21381.01 đã được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần V và ông Nguyễn Thanh T, bà Hoàng Thị Thúy C vào ngày 18/6/2021.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 58,046,979 đồng.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 24,865,665 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004238 ngày 11/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1, ông Nguyễn Thanh T, bà Hoàng Thị Thúy C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hánh án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Minh |
Bản án số 4954/2024/KDTM-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 4954/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
