TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 4953/2024/KDTM-ST
Ngày: 30/9/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Lượng
- Bà Nguyễn Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Võ Cao Hùng - Kiểm sát Viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 94/2023/TLST-KDTM ngày 30/3/2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6565/2024/QĐXXST-KDTM ngày 09 tháng 8 năm 2024, và Quyết định hoãn phiên toà số 7552/2024/QĐHST-KDTM ngày 04/9/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
Trụ sở: H L, phường L, quận Đ, Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Thanh H (Văn bản ủy quyền số 11491/2024/UQN-PGĐ ngày 30/9/2024 – Có mặt)
Địa chỉ: Tầng A, số I C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
- Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn S (Vắng mặt)
Trụ sở: Số B Đường C, Khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Anh Đ, sinh năm 1978
Địa chỉ thường trú: Số 8/2/19 đường Hai Bà Trưng, phường Nam Bình, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình
Địa chỉ tạm trú: Ngõ 13, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Bùi Anh Đ, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Công T, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Số 8/2/19 đường Hai Bà Trưng, phường Nam Bình, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình
Địa chỉ tạm trú: Ngõ 13, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
Địa chỉ thường trú: Xóm B, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An
Địa chỉ tạm trú: Nhà không số, đường V, Khu phố T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (sau đây gọi tắt là: Ngân hàng) có người đại diện theo uỷ quyền ông Hoàng Thanh H trình bày:
Ngày 16 tháng 12 năm 2020, Công ty Trách nhiệm hữu hạn S (gọi tắt: Công ty S) ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần V Hợp đồng cho vay hạn mức số: H09/20609. Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động cho hoạt động thi công và lắp đặt các loại cửa nhôm, kính, sắt, inox, cửa nhựa lõi thép. Ngân hàng đã giải ngân theo các khế ước nhận nợ sau:
- - Khế ước nhận nợ online lần 01 số: 170521-5976521-ONL-1 ngày 18/05/2021 với số tiền cho vay 550,000,451 đồng.
- - Khế ước nhận nợ online lần 02 số: 180521-5976521-ONL-2 ngày 18/05/2021 với số tiền cho vay 49,000,000 đồng.
Thời hạn cho vay 05 tháng, tính từ ngày tiếp theo ngày 18/5/2021 đến ngày 17/10/2021. Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân 18,70%. Lãi suất được cố định trong vòng 01 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên. Hết thời hạn 01 tháng, lãi suất sẽ được điều chỉnh 1 tháng/lần. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Lãi suất chậm trả là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả.
Khoản tín dụng cấp cho Công ty S được bảo lãnh bằng toàn bộ tài sản của cá nhân của ông Bùi Anh Đ theo Hợp đồng bảo lãnh số: HĐBL-H09/20609-01 ngày 16 tháng 12 năm 2020 và toàn bộ tài sản của cá nhân ông Nguyễn Công T theo Hợp đồng bảo lãnh số: HĐBL-H09/20609-02 ngày 16 tháng 12 năm 2020.
Trong quá trình sử dụng vốn vay, Công ty S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, cụ thể:
- Đối với Khế ước nhận nợ online lần 01 số: 170521-5976521-ONL-1 ngày 18/05/2021: Tạm tính đến ngày 30/9/2024, bị đơn mới chỉ thanh toán được tổng cộng 80,987,123 đồng, trong đó gồm: Tiền gốc: 5,000,000 đồng, tiền lãi 75,987,123 đồng. Hiện bị đơn còn nợ tổng cộng 892,183,557 đồng, trong đó gồm: Nợ gốc 545,000,451 đồng, nợ lãi trong hạn 8,264,541 đồng, nợ lãi quá hạn 337,161,501 đồng, nợ lãi chậm trả 1,757,064 đồng.
Đối với Khế ước nhận nợ online lần 02 số: 180521-5976521-ONL-2 ngày 18/05/2021: Tạm tính đến ngày 30/9/2024, bị đơn mới chỉ thanh toán được tổng cộng 14,063,228 đồng, trong đó gồm: Tiền gốc: 6,770,188 đồng, tiền lãi 7,293,040 đồng. Hiện bị đơn còn nợ tổng cộng 68,354,588 đồng, trong đó gồm: Nợ gốc 42,229,812 đồng, nợ lãi quá hạn 26,124,776 đồng.
Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tổng số nợ của 02 khế ước nhận nợ tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 960,538,145 đồng, cụ thể: Nợ gốc: 587,230,263 đồng, nợ lãi trong hạn: 8,264,541 đồng, nợ lãi quá hạn 363,286,277 đồng, nợ lãi chậm trả lãi 1,757,064 đồng.
Công ty S phải có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi tiếp tục phát sinh từ ngày 01/10/2024 trên số dư nợ gốc cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất được quy định tại hợp đồng mà các bên đã ký kết.
Trong trường hợp Công ty S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì yêu cầu ông Bùi Anh Đ và ông Nguyễn Công T phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ trên theo Hợp đồng bảo lãnh số: HĐBL-H09/20609-01 và Hợp đồng bảo lãnh số: HĐBL-H09/20609-02 đã được ký kết giữa Ngân hàng và ông Đ, ông T ngày 16/12/2020.
* Tại bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Công T trình bày:
Ông T xác nhận có ký Hợp đồng bảo lãnh số: HĐBL-H09/20609-02 ngày 16/12/2020. Mục đích ông T ký hợp đồng là để Công ty S được dễ dàng vay vốn tại ngân hàng. Ông T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc phải có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ thay cho Công ty S trong trường hợp công ty không trả nợ cho ngân hàng. Ông T chỉ là là người ký tên chứ không nhận được bất cứ lợi ích nào từ khoản tiền vay. Vì vậy, trách nhiệm thanh toán khoản nợ trên vẫn thuộc về Công ty S và cá nhân ông Bùi Anh Đ.
* Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Anh Đ đã được Toà án tống đạt hợp lệ để tham gia tố tụng tại Toà án nhưng đều vắng mặt nên Toà án không thể lấy lời khai của các đương sự trên được.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành tố tụng từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được công khai tại phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, được xem xét tại phiên toà cùng lời khai của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn S có địa chỉ trụ sở tại số B Đường C, Khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn S, ông Bùi Anh Đ và ông Nguyễn Công T đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên toà nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[2] Về nội dung:
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán khoản vay và tiền nợ lãi phát sinh:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng nộp, có cơ sở để khẳng định giữa nguyên đơn và Công ty S đã phát sinh quan hệ vay tài sản. Thực hiện hợp đồng, Công ty S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng, cụ thể:
Đối với Khế ước nhận nợ online lần 01 số: 170521-5976521-ONL-1 ngày 18/05/2021: Tạm tính đến ngày 30/9/2024, bị đơn mới chỉ thanh toán được tổng cộng 80,987,123 đồng, trong đó gồm: Tiền gốc: 5,000,000 đồng, tiền lãi 75,987,123 đồng. Hiện bị đơn còn nợ tổng cộng 892,183,557 đồng, trong đó gồm: Nợ gốc 545,000,451 đồng, nợ lãi trong hạn 8,264,541 đồng, nợ lãi quá hạn 337,161,501 đồng, nợ lãi chậm trả 1,757,064 đồng.
Đối với Khế ước nhận nợ online lần 02 số: 180521-5976521-ONL-2 ngày 18/05/2021: Tạm tính đến ngày 30/9/2024, bị đơn mới chỉ thanh toán được tổng cộng 14,063,228 đồng, trong đó gồm: Tiền gốc: 6,770,188 đồng, tiền lãi 7,293,040 đồng. Hiện bị đơn còn nợ tổng cộng 68,354,588 đồng, trong đó gồm: Nợ gốc 42,229,812 đồng, nợ lãi quá hạn 26,124,776 đồng.
Tổng số nợ của 02 khế ước nhận nợ tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 960,538,145 đồng, cụ thể: Nợ gốc: 587,230,263 đồng, nợ lãi trong hạn: 8,264,541 đồng, nợ lãi quá hạn 363,286,277 đồng, nợ lãi chậm trả lãi 1,757,064 đồng.
Do hợp đồng vay đã hết thời hạn thanh toán, việc nguyên đơn chuyển khoản nợ sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty S phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ trên.
Công ty S phải có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi tiếp tục phát sinh trên số dư nợ gốc kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ theo mức lãi suất quá hạn được quy định tại Hợp đồng cho vay hạn mức số: H09/20609 ngày 16/12/2020, Khế ước nhận nợ online lần 01 số: 170521-5976521-ONL-1 ngày 18/05/2021 và Khế ước nhận nợ online lần 02 số: 180521-5976521-ONL-2 ngày 18/05/2021 đã được ký kết giữa Ngân hàng và Công ty S.
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Bùi Anh Đ, ông Nguyễn Công T phải có nghĩa vụ thanh toán khoản vay trong trường hợp Công ty S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng:
Căn cứ để Ngân hàng yêu cầu ông Bùi Anh Đ, ông Nguyễn Công T phải thực hiện nghĩa vụ là Hợp đồng bảo lãnh số: HĐBL-H09/20609-01 và Hợp đồng bảo lãnh số: HĐBL-H09/20609-02 mà ông Đ, ông T đã ký với Ngân hàng ngày 16/12/2020. Các khoản vay của Công ty S đều đã đến hạn thanh toán nhưng bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy, Ngân hàng có quyền được yêu cầu bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh theo quy định tại Điều 339 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng.
Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 186, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 339 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 3, Điều 4, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn S phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền nợ tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 960,538,145 đồng, cụ thể: Nợ gốc: 587,230,263 đồng, nợ lãi trong hạn: 8,264,541 đồng, nợ lãi quá hạn 363,286,277 đồng, nợ lãi chậm trả lãi 1,757,064 đồng.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn S phải có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi tiếp tục phát sinh trên số dư nợ gốc kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ theo mức lãi suất quá hạn được được quy định tại Hợp đồng cho vay hạn mức số: H09/20609 ngày 16/12/2020, Khế ước nhận nợ online lần 01 số: 170521-5976521-ONL-1 ngày 18/05/2021 và Khế ước nhận nợ online lần 02 số: 180521-5976521-ONL-2 ngày 18/05/2021 đã được ký kết giữa Công ty Trách nhiệm hữu hạn S với Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ông Bùi Anh Đ, ông Nguyễn Công T phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản vay trên thay cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn S theo Hợp đồng bảo lãnh số: HĐBL-H09/20609-01 và Hợp đồng bảo lãnh số: HĐBL-H09/20609-02 mà ông Bùi Anh Đ, ông Nguyễn Công T đã ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần V ngày 16/12/2020.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 40,816,144 đồng.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 15,678,177 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003320 ngày 14/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn S, ông Bùi Anh Đ, ông Nguyễn Công T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hánh án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Minh |
Bản án số 4953/2024/KDTM-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 4953/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
