| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Bản án số: 495/2024/DS-PT | |
| Ngày: 30/5/2024 | |
| V/v: "Tranh chấp chia thừa kế" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim.
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Kim Quy
Bà Nguyễn Thị Lan Hương
- Thư ký phiên tòa: Mai Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Kiểm sát viên.
Vào ngày 14 tháng 5 và ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố H mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 70/2024/TLPT – DS ngày 16/01/2024 về việc “Tranh chấp chia thừa kế”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 128/2023/DS-ST ngày 17/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố H bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2024/QĐPT-DS ngày 28/02/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5054/2024/QĐ-PT ngày 16/4/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trương Duy H, sinh năm 1976; (có mặt)
Địa chỉ: Số A đường P, Phường B, Quận F, Thành phố H.
* Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Trịnh Minh Kiến Q, sinh năm 1976.(có mặt, vắng mặt ngày 30/5)
Địa chỉ: B C, Ấp B, xã T, huyện B, Thành phố H.
(Giấy ủy quyền ngày 02/02/2018, công chứng số 001258 – Quyền số 02 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C3, Thành phố H).
- Bị đơn: Bà Tạ Thị Hoàng H1, sinh năm: 1940; (có mặt)
Địa chỉ: Số A đường P, Phường B, Quận F, Thành phố H.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trí T, sinh năm: 1971. (có mặt)
Địa chỉ: 1 N, Phường A, Quận F, Thành phố H. Đại diện theo giấy ủy quyền lập ngày 06/5/2024 tại Văn Phòng C4.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Tạ Văn T1, sinh năm 1949;(vắng mặt)
Địa chỉ: Số D Khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Bà Tạ Thị Hoàng Y, sinh năm: 1971. (có mặt)
Địa chỉ:A P, phường B, Quận F, Thành phố H. Đại diện theo giấy ủy quyền lập ngày 10/5/2024 tại Văn Phòng C4.
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh năm 1954; (có mặt)
Địa chỉ thường trú: Số A Hòa Bình, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
* Người đại diện theo ủy quyền của bà H2: Ông Nguyễn Hoàng H3, sinh năm 1964.(có mặt)
Địa chỉ: Số B Đường số G, Khu dân cư B, Phường A, Quận F, Thành phố H.
(Giấy ủy quyền ngày 17/4/2019, công chứng số 03364 – Quyền số 04 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C5, Thành phố H).
3. Ông Nguyễn Chinh N, sinh năm: 1956. (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số A Đường H, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
4. Bà Nguyễn Thị Ngọc S, sinh năm 1962; (vắng mặt)
5. Ông Nguyễn Bạch V, sinh năm 1965 (chết năm 2022).
Địa chỉ: Số A hẻm D, Đường T, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
* Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Bạch V:
5.1. Bà Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh năm 1954;
Địa chỉ thường trú: Số A Hòa Bình, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
5.2. Ông Nguyễn Chinh N, sinh năm: 1956;
Địa chỉ: Số A Đường H, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
5.3. Bà Nguyễn Thị Ngọc S, sinh năm 1962.
Địa chỉ: Số A hẻm D, Đường T, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.”
6. Bà Trương Thị Thu H4, sinh năm: 1973. (vắng mặt). Địa chỉ: tổ A ấp Đ, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
* Người đại diện theo ủy quyền của bà H4: Ông Trương Duy H, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Số A đường P, Phường B, Quận F, Thành phố H.
(Giấy ủy quyền ngày 15/11/2018, công chứng số 3629 – Quyền số 06/2018 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C6, tỉnh Tiền Giang).
7. Bà Trương Thị Thiện H5, sinh năm: 1979 (vắng mặt)
Địa chỉ: xã S, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
8. Bà Bùi Thị L, sinh năm 1931.( có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số Cấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
9. Ủy ban nhân dân Quận F, Thành phố H:
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hà Thị Vân A. (có mặt)
Chức vụ: Chuyên viên Ban Bồi thường, Giải phóng mặt bằng Quận F.
Địa chỉ: Số C Đường C, Phường A, Quận F, Thành phố H. Theo Quyết định số 223/QĐ-UBND ngày 18/01/2023 về việc ủy quyền tham gia tố tụng vụ án dân sự của Ủy ban nhân dân Quận F.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm:
Nguyên đơn: Theo đơn khởi kiện ngày 02/01/2018; Bản tự khai và Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nguyên đơn là ông Trương Duy H và người đại diện theo ủy quyền của ông H là ông Trịnh Minh Kiến Q trình bày:
Căn nhà số A đường P, Phường B, Quận F, Thành phố H thuộc thửa đất số 27, tờ bản đồ số 23BĐĐC 2001, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH24784 ngày 31/12/2014 do ông nội của ông H là ông Trương Đình C (chết năm 1959) và bà nội là bà Nguyễn Thị C1 (chết năm 1975) tạo lập từ năm 1953. Khi ông Trương Đình C và bà Nguyễn Thị C1 chết không để lại di chúc, các con của ông C, bà C1 là những người sử dụng tiếp theo.
Ông Trương Đình C và bà Nguyễn Thị C1 có 08 người con gồm:
- Bà Trương Thị H6 sinh năm 1915, chết ngày 27/12/1982.
Có 02 người con là bà Tạ Thị Hoàng H1, sinh năm 1940 và ông Tạ Văn T1. Sinh năm 1949.
- Bà Trương Thị Ba s năm 1916, chết ngày 30/11/2002 (không có chồng, con).
- Bà Trương Thị T2 sinh năm 1918, chết ngày 14/01/2002, có 04 người con, gồm:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh năm 1954;
- Ông Nguyễn Chinh N, sinh năm 1956;
- Bà Nguyễn Thị Ngọc S, sinh năm 1962;
- Ông Nguyễn Bạch V, sinh năm 1965 (chết năm 2022).
- Bà Trương Thị N1, sinh năm 1920, chết năm 1952 (không có chồng, con).
- Bà Trương Thị S1, sinh năm 1923, chết năm 1944 (không có chồng, con)
- Ông Trương Văn B, sinh năm 1928, chết ngày 16/11/1998, có 03 người con, gồm:
- Bà Trương Thị Thu H4, sinh năm 1973;
- Ông Trương Duy H, sinh năm 1976;
- Bà Trương Thị Thiện H5, sinh năm 1979.
- Bà Trương Thị T3, sinh năm 1928, chết ngày 22/4/2014 (không có chồng, con)
- Ông Trương Đình C2, sinh năm 1930, chết ngày 20/10/2015 (không có vợ, con).
Năm 2014, Ủy ban nhân dân Quận F cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH24784 ngày 31/12/2014 đối với căn nhà số A đường P do ông Trương Đình C2 làm người đại diện của những người được thừa kế kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà.
Năm 2015, ông Trương Đình C2 chết, ông C2 không có vợ, con và cũng không để lại di chúc.
Hiện nay, Ban Bồi thường - Giải phóng mặt bằng Quận F đang tiến hành thủ tục bồi thường, giải phóng mặt bằng và thu hồi đất đối với căn nhà này theo quyết định số 7836/QĐ-UBND ngày 27/12/2017 của Ủy ban nhân dân Quận F để thực hiện dự án cải tạo kênh Hàng Bàng giai đoạn 2 tại Phường A và Phường B, Quận F. Trong số, 09 người có quyền thừa kế, 08 người đồng thuận ký văn bản thỏa thuận phân chia di sản nhưng bà Tạ Thị Hoàng H1 thì không đồng ý.
Do đó, ông Trương Duy H yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế của ông Trương Đình C và bà Nguyễn Thị C1 để lại đối với khoản tiền bồi thường về nhà, đất, vật kiến trúc, hỗ trợ và tái định cư. Kỷ phần của ông H được hưởng là 1/9 của tổng số tiền bồi thường 2.111.502.420 đồng, ước tính là 234.611.380 đồng.
Đối với yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Ngọc H2 về việc yêu cầu được trích công sức đóng góp, sửa chữa di sản thừa kế là căn nhà số A đường P, Phường B, Quận F, Thành phố H với tổng số tiền là 295.000.000 đồng thì ông H không đồng ý. Lý do là việc bà H2 sửa chữa nhà là theo nhu cầu cá nhân của bà H2, muốn sửa nhà cho chồng, con bà H2 vào ở tiện nghi hơn. Khi sửa chữa nhà thì bà H2 không báo hay xin ý kiến của những người thừa kế còn lại. Do đó, bà H2 không thể yêu cầu được trích công sức đóng góp, sửa chữa căn nhà.
Ông H cũng không thừa nhận di chúc ngày 20/05/2014 ký tên Trương Đình C2 do bà H2 giao nộp cho Tòa án. Ông H yêu cầu chia theo pháp luật đối với toàn bộ số tiền được Nhà nước đền bù nêu trên cho các đồng thừa kế.
* Theo Bản tự khai và Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải bị đơn là bà Tạ Thị Hoàng H1 trình bày:
Bà thống nhất với lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn về quan hệ huyết thống, hàng thừa kế, diện thừa kế và di sản thừa kế.
Về nguồn gốc căn nhà số A đường P, Phường B, Quận F, Thành phố H thuộc thửa đất số 27, tờ bản đồ số 23BĐĐC 2001, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH24784 ngày 31/12/2014 do ông ngoại của bà là ông Trương Đình C (chết năm 1959) và bà ngoại là Nguyễn Thị C1 (chết năm 1975) tạo lập từ năm 1953. Khi ông bà ngoại bà chết, không để lại di chúc, các dì, cậu của bà H1 là những người sử dụng tiếp theo.
Nay bà đồng ý chia di sản thừa kế của ông bà ngoại bà để lại, yêu cầu Tòa án căn cứ theo quy định pháp luật, căn cứ vào bảng chiết tính ngày 15/12/2017 của Ban bồi thường và giải phóng mặt bằng Quận F, xem xét phân chia cho bà các khoản tiền bồi thường nhà, đất, vật kiến trúc, hỗ trợ và tái định cư. Giá trị kỷ phần được hưởng là 234.611.380 đồng. Bà thống nhất với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Trương Duy H.
Đối với yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Ngọc H2 về việc yêu cầu được trích công sức đóng góp, sửa chữa di sản thừa kế là căn nhà số A đường P, Phường B, Quận F, Thành phố H với tổng số tiền là 295.000.000 đồng thì bà không đồng ý. Lý do là việc bà H2 sửa chữa nhà là theo nhu cầu cá nhân của bà H2, muốn sửa nhà cho chồng, con bà H2 vào ở tiện nghi hơn. Khi sửa chữa nhà thì bà H2 chỉ báo cho ông Trương Đình C2 biết mà không thông báo hay xin ý kiến của những người thừa kế còn lại. Bà không biết bà H2 đã sửa chữa những gì đối với căn nhà. Chồng, con bà H2 đã sử dụng căn nhà hơn 05 năm. Do đó, bà H2 không thể yêu cầu được trích công sức đóng góp, sửa chữa căn nhà.
Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc H2 về việc yêu cầu bà phải thanh toán cho bà H2 số tiền nợ 26.000.000 đồng. Đối với số tiền này thì bà thừa nhận bà có vay của bà H2 số tiền 26.000.000 đồng. Tuy nhiên, do hoàn cảnh của bà hiện nay khó khăn nên bà đề nghị bà H2 xem xét miễn cho bà toàn bộ số tiền nợ đã vay.
* Theo Bản tự khai và Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Ngọc H2 và người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Hoàng H3 trình bày:
Bà H2 giữ nguyên yêu cầu độc lập là được trích công sức đóng góp, sửa chữa di sản thừa kế là căn nhà số A đường P, Phường B, Quận F, Thành phố H với tổng số tiền là 295.000.000 đồng vì khi sửa nhà có hợp đồng thuê Công ty X thi công sửa chữa, có phiếu thu và bà H2 có báo với Ủy ban nhân dân Phường B3 về việc sửa chữa;
Từ năm 2009 đến năm 2012, bà Tạ Thị Hoàng H1 nhiều lần vay tiền của bà H2 với tổng số tiền là 26.000.000 đồng. Khi bà giao tiền cho bà H1 thì có viết giấy và bà H1 có ký nhận nợ. Do đó, nay bà H2 yêu cầu bà Tạ Thị Hoàng H1 phải thanh toán cho bà H2 toàn bộ số tiền nợ là 26.000.000 đồng.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với di sản thừa kế là khoản tiền bồi thường về nhà, đất, vật kiến trúc, hỗ trợ và tái định cư của quyền sử dụng đất và nhà tại số A B Đường P, Phường B, Quận F, Thành phố H thì bà H2 không đồng ý vì ông Trương Đình C2 đã lập di chúc ngày 20/05/2014 có nội dung bà sẽ được thừa hưởng toàn bộ di sản thừa kế do ông C2 để lại là phần sở hữu của ông Trương Đình C2 đối với nhà, đất nêu trên. Bà H2 yêu cầu được hưởng toàn bộ phần di sản của ông C2 trong khoản tiền bồi thường về nhà, đất, vật kiến trúc, hỗ trợ và tái định cư của quyền sử dụng đất và nhà số A Đường P, Phường B, Quận F, Thành phố H theo nội dung di chúc ngày 20/05/2014 của ông Trương Đình C2. Đồng thời, yêu cầu được hưởng phần di sản của mẹ bà H2 được chia theo pháp luật;
Ngoài ra, khi ông Trương Đình C2 còn sống có kể với vợ chồng bà H2 là ông C2 có hai số tiết kiệm (một số 500.000.000 đồng và một số 40.000.000 đồng) đứng tên ông Trương Đình C2. Bà H2 không biết hiện nay ai đang giữ hai sổ tiết kiệm nêu trên. Ngày 28/7/2022, bà H2 có đơn yêu cầu bổ sung và xác định lại yêu cầu độc lập trong đó bà H2 yêu cầu được nhận toàn bộ số tiền vốn và lãi đối với số tiền 500.000.000 đồng mà ông Trương Đình C2 còn gửi tại Ngân hàng TMCP Đ để trừ vào số tiền mà ông C2 đã nhận của bà để bán căn nhà số A đường P, Phường B, Quận F, Thành phố H.
Đối với việc bà H1 đề nghị bà xem xét miễn cho bà H1 số tiền nợ vay là 26.000.000 đồng thì bà cần có thời gian xem xét thêm đề nghị nêu trên của bà H1.
* Theo Bản tự khai và Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ông Trương Duy H là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà Trương Thị Thu H4) trình bày:
Bà Trương Thị Thu H4 thống nhất với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông. Bà H4 đồng ý chia di sản thừa kế của ông bà nội để lại, yêu cầu Tòa án căn cứ theo quy định pháp luật, căn cứ vào bảng chiết tính ngày 15/12/2017 của Ban bồi thường và giải phóng mặt bằng Quận F, xem xét phân chia cho bà H4 các khoản tiền bồi thường nhà, đất, vật kiến trúc, hỗ trợ và tái định cư. Giá trị kỷ phần bà H4 được hưởng là 234.611.380 đồng.
* Theo Bản tự khai, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Ngọc S và là người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông Nguyễn Bạch V), trình bày:
Với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và là người đại diện cho ông Nguyễn Bạch V, thống nhất với lời trình bày của ông Trương Duy H và ông Trịnh Minh Kiến Q về quan hệ huyết thống, hàng thừa kế, diện thừa kế và di sản thừa kế là tiền bồi thường căn nhà số A đường P, Phường B, Quận F.
Yêu cầu Tòa án căn cứ theo quy định pháp luật, căn cứ vào bảng chiết tính ngày 15/12/2017 của Ban bồi thường và giải phóng mặt bằng Quận F, xem xét phân chia cho mỗi đồng thừa kế các khoản tiền bồi thường nhà, đất, vật kiến trúc, hỗ trợ và tái định cư. Kỳ phần mỗi người được hưởng là 1/9 của tổng số tiền bồi thường 2.111.502.420 đồng, ước tính khoảng 234.611.380 đồng.
Bà không đồng ý đối với yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Ngọc H2 về việc yêu cầu được trích công sức đóng góp, sửa chữa di sản thừa kế là căn nhà số A đường P, Phường B, Quận F, Thành phố H với tổng số tiền là 295.000.000 đồng thì bà không đồng ý. Lý do là việc bà H2 sửa chữa nhà là theo nhu cầu cá nhân của bà H2, muốn sửa nhà cho chồng, con bà H2 vào ở tiện nghi hơn. Khi sửa chữa nhà thì bà H2 chỉ báo cho ông Trương Đình C2 biết mà không thông báo hay xin ý kiến của những người thừa kế còn lại. Bà không biết bà H2 đã sửa chữa những gì đối với căn nhà. Chồng, con bà H2 đã sử dụng căn nhà hơn 05 năm. Do đó, bà H2 không thể yêu cầu được trích công sức đóng góp, sửa chữa căn nhà.
* Theo bản tự khai, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Chinh N và bà Trương Thị Thiện H5 trình bày:
Thống nhất với lời trình bày của ông Trịnh Minh Kiến Q về quan hệ huyết thống, hàng thừa kế, diện thừa kế và di sản thừa kế (căn nhà số A đường P, Phường B, Quận F).
Yêu cầu Tòa án căn cứ theo quy định pháp luật, căn cứ vào bảng chiết tính ngày 15/12/2017 của Ban bồi thường và giải phóng mặt bằng Quận F, xem xét phân chia cho mỗi đồng thừa kế các khoản tiền bồi thường nhà, đất, vật kiến trúc, hỗ trợ và tái định cư. Kỳ phần mỗi người được hưởng là 1/9 của tổng số tiền bồi thường 2.111.502.420 đồng, ước tính khoảng 234.611.380 đồng.
* Theo Bản tự khai và Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ông Trương Tấn P là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Ủy ban nhân dân Quận F, Thành phố H) trình bày:
Mặt bằng nhà số A đường P, Phường B, Quận F bị ảnh hưởng dự án kênh H (giai đoạn 2) Quận F đã được Ủy ban nhân dân Quận F ban hành Quyết định số 140/QĐ-UBND-BBT ngày 06/01/2018 về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi toàn bộ mặt bằng số 106B đường P, Phường B, Quận F theo phương thức tái định cư với số tiền 2.126.502.420 đồng.
Dự án đã mời các đương sự đến nhận tiền bồi thường, hỗ trợ. Tuy nhiên, gia đình các đương sự đang tranh chấp và khởi kiện tại Tòa án Quận 6 nên hộ dân chưa lập thủ tục nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và chưa bàn giao mặt bằng cho dự án.
Căn cứ Điều 49 của Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Thành phố H thì Ban bồi thường giải phóng mặt bằng Quận F đã lập thủ tục gửi vào tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước Quận 6 theo quy định ngày 16/7/2018 với số tiền 2.111.502.420 đồng (trừ tiền thưởng 15.000.000 đồng). Ngày 30/6/2021, Ủy ban nhân dân Quận F ra Quyết định số 2844/QĐ-UBND-BBT về việc bổ sung chi phí hỗ trợ tự lo nơi ở mới do thu hồi mặt bằng số 106B đường P, với số tiền tăng bổ sung thêm là 95.785.202 đồng.
Sau khi Tòa án giải quyết xong vụ án, Ủy ban nhân dân Quận F và B1 Bồi thường giải phóng mặt bằng Quận F sẽ căn cứ bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án để xử lý đối với số tiền bồi thường nêu trên của các đương sự. Ngoài ra, Ủy ban nhân dân Quận F không có ý kiến gì khác.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Nguyên đơn là ông Trương Duy H có người đại diện theo ủy quyền là ông Trịnh Minh Kiến Q trình bày:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Trương Đình C và bà Nguyễn Thị C1 để lại theo pháp luật. Nguyên đơn đề nghị được bổ sung số tiền yêu cầu chia là 95.785.202 đồng, theo Quyết định số 2844/QĐ-UBND-BBT ngày 30/6/2021 của Ủy ban nhân dân Quận F về việc bổ sung chi phí hỗ trợ tự lo nơi ở mới do thu hồi mặt bằng số A đường P. Tổng cộng, số tiền yêu cầu chia là 2.207.287.622 đồng.
Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để xác minh lại số tiền tiết kiệm của ông Trương Đình C2 tại các Ngân hàng mà bà H2 đã có yêu cầu xác minh trong phiên tòa lần trước, nhưng chưa có kết quả.
- Bị đơn là bà Tạ Thị Hoàng H1 trình bày:
Bà thống nhất chia di sản thừa kế của ông bà ngoại để lại theo quy định của pháp luật.
Đối với khoản tiền nợ bà H2 yêu cầu bà hoàn toàn không đồng ý vì bà không có vay mượn tiền của bà H2, cũng không ký giấy mượn tiền, số tiền trước đây bà H2 cho bà thì bà H2 nói đã xong hết rồi không còn vay mượn gì. Bà không đồng ý trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của bà trong giấy vay tiền mà bà H2 nộp cho Tòa án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Ngọc H2 và người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Ngọc H2 là ông Nguyễn Hoàng H3 trình bày:
Bà H2 giữ nguyên yêu cầu độc lập như đã nêu trong đơn, cụ thể như sau:
- Bà H2 yêu cầu được hưởng toàn bộ di sản thừa kế của ông Trương Đình C2 theo di chúc ông C2 để lại và được hưởng phần thừa kế theo pháp luật của mẹ bà H2 là bà Trương Thị T2 để lại;
- Yêu cầu được trích công sức và chi phí sửa chữa, tôn tạo di sản thừa kế là là 295.000.000 đồng;
Yêu cầu bà Tạ Thị Hoàng H1 phải trả số tiền nợ tổng cộng là 26.000.000 đồng. Bà H2 xác nhận, ngoài số tiền nợ bà yêu cầu Tòa án giải quyết thì bà H1 không còn nợ bà khoản tiên nào khác.
Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Bạch V là em bà H2 chết, không để lại di chúc, không có vợ con nên bà H2 yêu cầu chia đều phần di sản mà ông V được chia trong vụ án này cho các anh, chị của ông V là bà, ông Nguyễn Chinh N và bà Nguyễn Thị Ngọc S.
Trong quá trình giải quyết, bà H2 có đề nghị Tòa án xác minh số tiền ông Trương Đình C2 gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ và Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3. Tuy nhiên, đến nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 chưa có văn bản trả lời, còn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ do PGD Nguyễn Thị T4 trả lời xác minh là không đúng thẩm quyền. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để xác minh lại đối với số tiền mà ông Trương Đình C2 đã gửi tiết kiệm trong các Ngân hàng nêu trên.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc S trình bày:
Năm 2016, ông Nguyễn Bạch V bị bệnh tụ máu não phải mổ cấp cứu tại Bệnh viện C7, tổng chi phí phẫu thuật và điều trị tại bệnh viện trong thời gian gần 1 tháng là rất lớn, nhưng tiền ông V để lại chỉ có khoảng 200.000.000 đồng là không đủ nên bà phải vay mượn bạn bè, người thân để chữa trị cho ông V. Sau khi được xuất viện thì do ông V không tự chăm sóc được bản thân, gần như mất trí nhớ. Do ông V không có vợ, con, không có nhà cửa nên bà phải đón ông V về nhà bà chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi ông V chết. Toàn bộ chi phí chăm sóc ông V đều do một mình bà tự bỏ ra, bà H2 và ông N là chị em ruột nhưng không chăm sóc ông V ngày nào, cũng không hỗ trợ bà một đồng để nuôi ông V. Năm 2022, ông V chết thì một mình bà phải bỏ tiền lo chi phí mai tang hết khoảng 20.000.000 đồng. Việc này các anh chị em và họ hàng đều biết.
Do vậy, bà yêu cầu được nhận toàn bộ phần ông V được hưởng thừa kế theo pháp luật và phần mà bà L cho ông V để bù đắp các khoản mà bà đã chi phí cho V như đã trình bày trên.
Do các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên đã đưa ra xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 128/2023/DS-ST ngày 17/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trương Duy H về việc chia di sản thừa kế của ông Trương Đình C và bà Nguyễn Thị C1.
- Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Ngọc H2 về việc chia di sản thừa kế của ông Trương Đình C2 theo di chúc lập ngày 20/5/2014.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Ngọc H2 về việc trích công sức tôn tạo di sản thừa kế với số tiền 295.000.000 đồng.
- Ghi nhận bà Bùi Thị L tự nguyện tặng cho các cháu của ông C2, gồm: Bà Tạ Thị Hoàng H1, ông Tạ Văn T1, bà Nguyễn Thị Ngọc H2, ông Nguyễn Chinh N, bà Nguyễn Thị Ngọc S, ông Nguyễn Bạch V, ông Trương Duy H, bà Trương Thị Thu H4, bà Trương Thị Thiện H5 toàn bộ phần di sản thừa kế bà L được thừa hưởng của ông Trương Đình C2 là 735.762.540 đồng.
- Di sản thừa kế được chia cụ thể như sau:
- Bà Tạ Thị Hoàng H1, ông Tạ Văn T1 mỗi người được hưởng 1/2 di sản của bà Trương Thị H6 là 183.940.635 đồng + phần của bà Bùi Thị L tặng cho là 81.751.393 đồng = 265.692.028 đồng.
- Ông Trương Duy H, bà Trương Thị Thu H4, bà Trương Thị Thiện H5, mỗi người được hưởng 1/3 di sản của ông B là 122.627.091 đồng + phần của bà Bùi Thị L tặng cho là 81.751.393 đồng = 204.378.484 đồng.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc H2 được hưởng phần theo di chúc của ông Trương Đình C2 là 367.881.270 đồng + phần của bà Trương Thị T2 là 91.970.318 đồng + phần của bà Bùi Thị L tặng cho là 81.751.393 đồng + phần của ông Nguyễn Bạch V là 43.430.428 đồng = 642.940.645 đồng;
- Ông Nguyễn Chinh N được hưởng phần của bà Trương Thị T2 là 91.970.318 đồng + phần của bà Bùi Thị L tặng cho là 81.751.393 đồng + phần của ông Nguyễn Bạch V là 43.430.428 đồng = 217.152.139 đồng;
- Bà Nguyễn Thị Ngọc S được hưởng phần của bà Trương Thị T2 là 91.970.318 đồng + phần của bà Bùi Thị L tặng cho là 81.751.393 đồng + phần của ông Nguyễn Bạch V là 86.860.855 đồng = 260.582.566 đồng.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trương Duy H đối với số tiền 30.232.896 đồng (234.611.380 đồng - 204.378.484 đồng).
- Ghi nhận Ủy ban nhân dân Quận F đồng ý chi trả cho các đồng thừa kế số tiền mà các đồng thừa kế được hưởng từ số tiền bồi thường căn nhà số A đường P sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà Tạ Thị Hoàng H1, ông Tạ Văn T1, bà Nguyễn Thị Ngọc H2, ông Nguyễn Chinh N, bà Nguyễn Thị Ngọc S, ông Trương Duy H, bà Trương Thị H4, bà Trương Thiện H5 có quyền liên hệ với Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng Quận F để hoàn tất các thủ tục nhận số tiền tương ứng với kỳ phần được chia nêu trên.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị H2 đối với bà Tạ Thị Hoàng H1 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản:
Buộc bà Tạ Thị Hoàng H1 có nghĩa vụ phải trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc H2 tổng số tiền nợ là 26.000.000 đồng.
Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bà H2 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà H1 không trả cho bà H2 số tiền nêu trên thì hàng tháng bà H1 còn phải trả cho bà H2 số tiền lãi chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc H2 yêu cầu được hưởng số tiền gửi tiết kiệm 540.000.000 đồng của ông Trương Đình C2 được tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự thu thập đủ chứng cứ theo quy định.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Trương Duy H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 10.219.000 đồng (Mười triệu hai trăm mười chín ngàn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.750.000 theo biên lai thu số 0029191 ngày 08/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6. Ông H còn phải nộp thêm số tiền 4.469.000 đồng.
Bà Trương Thị Thiện H5 phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 10.219.000 đồng.
Bà Trương Thị Thu H4 có nhược điểm về thể chất nên được miễn án phí;
Bà Tạ Thị Hoàng H1, ông Tạ Văn T1, bà Nguyễn Thị Ngọc H2, ông Nguyễn Chinh N, bà Nguyễn Thị Ngọc S thuộc trường hợp được miễn án phí và đã có đơn xin miễn án phí dân sự theo Điều 12, Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tại Quyết định sửa chữa bổ sung 46/TB-SCBSBA ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 6 :
Sửa chữa, bổ sung Bản án dân sự sơ thẩm số: 128/2023/DS-ST ngày 17/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố H như sau:
- Tại dòng thứ 12 đến dòng thứ 15 từ dưới lên trang số 18 của Bản án đã ghi:
“ Như vậy, bà Nguyễn Thị Ngọc H2 được hưởng phần theo di chúc của ông Trương Đình C2 là 367.881.270 đồng + phần của bà Trương Thị T2 là 91.970.318 đồng + phần của bà Bùi Thị L tặng cho là 81.751.393 đồng + phần của ông V là 43.430.428 đồng = 642.940.645 đồng.”
Nay sửa chữa, bổ sung như sau:
“ Như vậy, bà Nguyễn Thị Ngọc H2 được hưởng phần theo di chúc của ông Trương Đình C2 là 367.881.270 đồng + phần của bà Trương Thị T2 là 91.970.318 đồng + phần của bà Bùi Thị L tặng cho là 81.751.393 đồng + phần của ông V là 43.430.428 đồng = 585.033.409 đồng.”
- Tại dòng thứ 12 đến dòng thứ 15 từ trên xuống trang số 20 của Bản án đã ghi:
“5.3. Bà Nguyễn Thị Ngọc H2 được hưởng phần theo di chúc của ông Trương Đình C2 là 367.881.270 đồng + phần của bà Trương Thị T2 là 91.970.318 đồng + phần của bà Bùi Thị L tặng cho là 81.751.393 đồng + phần của ông V là 43.430.428 đồng = 642.940.645 đồng.”
Nay sửa chữa, bổ sung như sau:
“5.3. Bà Nguyễn Thị Ngọc H2 được hưởng phần theo di chúc của ông Trương Đình C2 là 367.881.270 đồng + phần của bà Trương Thị T2 là 91.970.318 đồng + phần của bà Bùi Thị L tặng cho là 81.751.393 đồng + phần của ông V là 43.430.428 đồng = 585.033.409 đồng.”
Sau khi Bản án tuyên người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc H2 và ông Nguyễn Chinh N kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
- Ngày 31 tháng 8 năm 2023 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 35/QĐ-VKS-DS kháng nghị một phần bản án sơ thẩm số 128/2023/DS-ST ngày 17/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
*Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc H2 và ông Nguyễn Chinh N kháng cáo bản án.
- Bà H2 và người đại diện theo ủy quyền trình bày kháng cáo: Yêu cầu xem xét số tiền đã bỏ vào sửa chữa di sản thừa kế là căn nhà số A đường P, Phường B, Quận F, Thành phố H với tổng số tiền là 295.000.000 đồng, yêu cầu trích trong giá trị tiền bồi thường di sản hoàn trả cho bà. Đồng thời đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét di sản của ông Trương Đình C2 là 02 số tiền gửi tiết kiệm trị giá khoảng 500.000.000 đồng gửi tại ngân hàng nhưng chưa được xem xét. Ngoài ra đối với phần di sản của ông C2, bà Bùi Thị L là vợ của ông C2 đã từ chối không nhận di sản thì phải được giao trọn cho bà H2.
- Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Chinh N, đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm, xem xét đối với số tiền gửi tiết kiệm của ông Trương Đình C2. Đề nghị xem xét phần di sản mà bà S được hưởng đối với phần thừa kế từ ông Nguyễn Bạch V.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, các nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng, đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt.
- Về nội dung:
Về kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc H2: Qua xem xét toàn bộ chứng cứ, xét yêu cầu kháng cáo của bà H2, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ theo khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm, đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà H2 về số tiền bỏ ra sửa chữa căn nhà là di sản thừa kế với số tiền 295.000.000 đồng, không chấp nhận các phần khác kháng cáo khác của bà H2.
Về kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6: Rút lại một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 đối với phần hưởng di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị Ngọc S.
Kiến nghị rút kinh nghiệm việc xác định người kế thừa quyền và nghĩa tụ tố tụng của ông Nguyễn Bạch V chết (năm 2022).
Đối với kháng cáo của ông Nguyễn Chinh N, do việc tống đạt của ông N là hợp lệ, việc đương sự vắng mặt tại phiên tòa nên xem như từ bỏ việc kháng cáo nên căn cứ theo Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ yêu cầu kháng cáo của ông N
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Đơn kháng cáo của bà H2 đúng thời hạn theo quy định tại Điều 273 và các thủ tục kháng cáo thực hiện đúng quy định Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên kháng cáo được chấp thuận giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Đối với kháng cáo của ông Nguyễn Chính N2: Tại tòa án cấp sơ thẩm, ông Nguyễn Chinh N có ủy quyền cho ông Trịnh Minh Kiến Q theo giấy ủy quyền lập ngày 03/10/2022 tại Văn Phòng công chứng Trần Thanh B2, tỉnh Bạc Liêu, ông N cũng có đơn xin vắng mặt. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm, ông Q có mặt tại phiên tòa không đồng ý làm người đại diện cho ông N. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Sau khi phiên tòa tạm ngừng, ông N có gửi đơn xin vắng mặt nên xem xét giải quyết yêu cầu kháng cáo theo quy định.
- Đối với sự có mặt, vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm: Đương sự có mặt tại phiên tòa tham gia phiên tòa phúc thẩm theo luật định. Các đương sự vắng mặt đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, nên xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 296 Bộ Luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung kháng cáo:
Sau khi xem xét toàn bộ các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án, yêu cầu kháng cáo và lời trình bày, đối chất công khai của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, ý kiến của Viện kiểm sát, xét thấy:
[2.1] Về các yêu cầu kháng cáo của đương sự :
- Yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc H2:
Yêu cầu công nhận số tiền 295.000.000 đồng bà H2 bỏ vào sửa chữa căn nhà số A đường P, Phường B, Quận F, Thành phố H là của bà H2, số tiền này được trừ vào số tiền di sản thừa kế được bồi thường là 2.207.208.000 đồng - 295.000.000 đồng = 1.912.287.000 đồng, sau đó mới phân chia thừa kế cho các đồng thừa kế khác được hưởng.
Xem xét di sản của ông Trương Đình C2 để lại có 02 số tiền gửi tiết kiệm trị giá khoảng 500.000.000 đồng chưa được giải quyết, do Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm hết trách nhiệm xác minh, thu thập chứng cứ để bảo vệ quyền lợi cho đương sự.
Ngoài ra đối với phần di sản của ông C2 được bà Bùi Thị L là vợ đã không yêu cầu chia di sản, nghĩa là bà L đã từ chối nhận di sản này nên phải được giao trọn cho bà H2.
- Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Chinh N kháng cáo một phần bản án sơ thẩm đối với số tiền gửi tiết kiệm của ông Trương Đình C2 chưa được xem xét. Đề nghị xem xét phần di sản mà bà S được hưởng đối với phần thừa kế từ ông Nguyễn Bạch V, bà S là người giám hộ nuôi dưỡng ông V là người bị hạn chế năng lực hành vi, cho đến lúc ông V chết.
[2.2] Nguyên đơn, bị đơn cùng những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác không đồng ý toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà H2, ông N. Các đương sự thống nhất cho rằng, khi ông Trương Đình C2 còn sống, ông C2 chỉ làm người đại diện được ghi rõ trong Giấy chứng nhận là “thừa kế kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà”. Ông C2 không phải là chủ sở hữu toàn bộ tài sản này, quá trình quản lý di sản ông C2 có cho bà H2 và gia đình bà H2 vào sinh sống tại đây. Khi sinh sống bà H2 có sửa chữa đều không thông báo cho các đồng thừa kế khác được biết sửa chữa những gì, thay đổi ra sao vì căn nhà hiện đã giải tỏa, không còn hiện trạng để xem xét được. Nếu bà H2 cho rằng có việc sửa chữa thì cũng nhằm phục vụ nhu cầu lợi ích cá nhân bà H2 và gia đình của bà, các đồng thừa kế khác không hề được lợi ích gì từ việc này. Việc sữa chữa cũng nhằm tăng chất lượng tiện nghi sinh hoạt, chứ không phải là do hư hỏng xuống cấp. Bên cạnh đó, việc bà H2 và gia đình sinh sống tại đây cũng là đã được hưởng lợi từ di sản chung của các đồng thừa kế khác.
Bà H2 cho rằng có việc sửa chữa và nâng cao giá trị di sản thừa kế thì yêu cầu chứng minh. Các hợp đồng, biên nhận tiền khi sửa nhà mà bà H2 xuất trình với số tiền lớn là không khách quan, hơn nữa việc sửa chữa khối lượng công trình lớn mà không có cơ quan chức năng quản lý xây dựng nhà ở cho phép thực hiện. Nên các đồng thừa kế không đồng ý.
Đối với số tiền tiết kiệm của ông Trương Đình C2 mà đương sự kháng cáo hiện tại là không có. Nếu bà H2 cũng như những người thừa kế khác xuất trình được thì giải quyết tiếp bằng vụ án khác.
Về yêu cầu kháng cáo việc từ chối nhận di sản của bà L là vợ ông Trương Đình C2. Bà L không phải từ chối nhận di sản, mà bà L xác định rõ phần của bà L được hưởng thì sẽ chia cho các đồng thừa kế khác là các cháu của ông C2, đó là ý kiến định đoạt của bà L, do đó bà H2 kháng cáo yêu cầu giao phần thừa kế của bà L cho bà H2 là không đúng.
Nguyên đơn, bị đơn và các người liên quan có mặt tham gia phiên tòa không đồng ý toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà H2, ông N. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm nhanh chóng giải quyết vụ án vì số tiền bồi thường đã được cơ quan nhà nước quản lý giữ từ rất lâu. Các đồng thừa kế đều mong muốn giải quyết nhanh chóng, dứt điểm để kết thúc vụ án.
- Đại diện Ủy ban nhân dân Quận F có ý kiến: Mặt bằng nhà số A đường P, Phường B, Quận F đã được Ủy ban nhân dân Quận F ban hành Quyết định số 140/QĐ-UBND-BBT ngày 06/01/2018 về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi toàn bộ mặt bằng số 106B đường P, Phường B, Quận F theo phương thức tái định cư với số tiền 2.126.502.420 đồng.
Dự án đã mời các đương sự đến nhận tiền bồi thường, hỗ trợ. Tuy nhiên, gia đình các đương sự đang tranh chấp và khởi kiện tại Tòa án nên hộ dân chưa lập thủ tục nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và chưa bàn giao mặt bằng cho dự án. Căn cứ Điều 49 của Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Thành phố H thì Ban bồi thường giải phóng mặt bằng Quận F đã lập thủ tục gửi vào tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước Quận 6 theo quy định ngày 16/7/2018 với số tiền 2.111.502.420 đồng (trừ tiền thưởng 15.000.000 đồng). Ngày 30/6/2021, Ủy ban nhân dân Quận F ra Quyết định số 2844/QĐ-UBND-BBT về việc bổ sung chi phí hỗ trợ tự lo nơi ở mới do thu hồi mặt bằng số 106B đường P, với số tiền tăng bổ sung thêm là 95.785.202 đồng.
Đề nghị Tòa án nhanh chóng xét xử việc tranh chấp, để Cơ quan quản lý nhà nước giải quyết cho người dân.
[2.3] Xét thấy:
Đối với kháng cáo của bà H2:
- Số tiền sữa chữa căn nhà A đường P, Phường B, Quận F, Thành phố H là 295.000.000 đồng, bà H2 chứng minh bằng các hợp đồng sửa nhà, biên nhận nhận tiền của người sửa chữa với số tiền tổng cộng là 295.000.000 đồng. Đây là số tiền sửa chữa lớn, căn cứ theo hợp đồng thi công thể hiện nhiều hạn mục, căn cứ theo lời khai của Lê Văn V1 (Bút lục số 485) là Giám đốc công ty TNHH T5- bên thực hiện thi công công trình, gồm các hạn mục như : Nâng nền cao 0,6 m, lát lại toàn bộ diện tích nhà, sửa chữa toàn bộ phần gát, đổ bê tông, lót gạch... như vậy là đã có có sự thay đổi nhiều đối với công trình này. Bà H2 không phải là chủ sở hữu tài sản, cũng không phải là người được giao quyền quản lý di sản, nhưng bà H2 thừa nhận tự thực hiện sửa chữa mà không có ý kiến đồng thuận của các đồng thừa kế khác. Bà H2 cũng không thông qua chính quyền địa phương về quản lý xây dựng, nên hiện không có lưu giữ thông tin tài liệu gì về việc sửa chữa này để được xem xét. Tại công văn số 467/UBND ngày 12/5/2023 của Ủy ban nhân dân Phường B3 xác định: “Qua hồ sơ lưu trữ tại phường không có hồ sơ sửa chữa nhà A đường P, Phường B, Quận F, Thành phố H(Bút lục số 688), và thực tế hiện nay căn nhà không còn tồn tại do đã bị thu hồi giải tỏa, nên không còn hiện trạng để xem xét.
Bà H2 cho rằng từ việc sửa chữa làm mới căn nhà, từ đó làm tăng giá trị cho di sản thừa kế, nhưng không có chứng cứ gì chứng minh có sự thay đổi trước và sau khi sửa chữa để làm tăng giá trị đó, tăng thế nào, tăng bao nhiêu.
Hơn nữa các đồng thừa kế không thừa nhận có sự sửa chữa làm thay đổi giá trị công trình nhà ở như bà H2 đã nêu.
Ngoài ra, bà H2 không phải là người được quyền quản lý di sản để quyết định vấn đề có liên quan làm đổi giá trị di sản này, việc sửa chữa khi nào, thực hiện ra sao các đồng thừa kế khác xác định không biết và không đồng ý. Mặt khác, khi Nhà nước tiến hành xác lập quy hoạch đền bù, bà H2 cũng không nêu ý kiến cho các đồng thừa kế khác được biết để xác định phần giá trị sửa chữa của mình, để có căn cứ xem xét, đây là lỗi của bà H2. Nay ông C2 là người đứng tên đại diện thừa kế, là người quản lý di sản đã chết, quá trình sử dụng cũng không có văn bản nào thể hiện ông C2 đồng ý cho bà H2 sửa nhà với số tiền bà H2 đã nêu, hợp đồng sửa nhà, biên nhận nhận tiền, các đồng thừa kế còn lại không đồng ý nên chưa đủ cơ sở căn cứ để xem xét chấp nhận. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của H2 là có cơ sở. Nay bà H2 kháng cáo nhưng cũng không có cung cấp thêm chứng cứ gì để chứng minh nên bác yêu cầu kháng cáo này.
- Đối với kháng cáo yêu cầu xem xét số tiền tiết kiệm của ông Trương Đình C2 là khoảng 500.000.000 đồng được gửi, giữ tại ngân hàng, trong quá trình giải quyết bà H2 khai là biết được chỉ qua lời kể của ông C2 và bà Tạ Thị Hoàng H1 (bị đơn) chứ thực tế bà không thấy hai sổ tiết kiệm đó. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H2 cũng không có bất kỳ giấy tờ tài liệu, thông tin gì về tài sản nêu trên, mà bà H2 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm phải tự tìm kiếm xác minh để làm rõ số tiền mà ông C2 để lại, để tiếp tục chia thừa kế theo yêu cầu của bà.
Các đương sự nguyên đơn, bị đơn và người liên quan có mặt tại phiên tòa đều không thừa nhận có số tiền trên. Yêu cầu bà H2 phải xuất trình chứng cứ chứng minh số tiền trên là thật, nếu không có thì bác yêu cầu kháng cáo này. Còn bị đơn bà H1 và người đại diện theo ủy quyền của bà H1 khi đối chất thì khẳng định không biết số tiền đó và đề nghị bác kháng cáo.
Thấy rằng, khi giải quyết vụ án, để giúp đương sự chứng minh yêu cầu khởi kiện cũng là làm sáng tỏ, rõ ràng vụ việc, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ và Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 theo yêu cầu của bà H2. Nhưng kết quả xác minh: Ngân hàng TMCP Đ – Phòng G (trước đây là Phòng G1) và Ngân hàng TMCP Á – Chi nhánh B4 đều trả lời ông Trương Đình C2 không có mở tài khoản thanh toán, tài khoản tiết kiệm tại các Ngân hàng trên; Đối Ngân hàng Thương mại Cổ phần N3 đến nay vẫn chưa có văn bản trả lời. Tòa án cấp sơ thẩm đã có nhiều văn bản kể cả nhắc lại nhưng đến nay cũng không nhận được kết quả.
Như vậy, đương sự dù không tự chứng minh được yêu cầu khởi kiện nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn tích cực thu thập tài liệu, chứng cứ để nhằm làm rõ sự thật cũng là giải quyết triệt để các yêu cầu của đương sự trong vụ án, nhưng đến nay vẫn không có chứng cứ nào thể hiện có số tiền gửi như đương sự trình bày, nên Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện này là hoàn toàn có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H2 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo là chia thừa kế với di sản là số tiền khoảng 500.000.000 đồng mà ông Trương Đình C2 gửi tiết kiệm tại ngân hàng, nhưng bà vẫn không cung cấp được chứng cứ để chứng minh, không có bất kỳ thông tin nào để Tòa án xem xét, mà đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tự tìm kiếm, xác minh vì cho rằng việc xác minh của Tòa án cấp phúc thẩm ở tầm rộng hơn và bao quát hơn cấp sơ thẩm.
Xét thấy rằng, đương sự khi khởi kiện và kháng cáo thì pháp luật đã quy định đương sự phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình, đây vừa là quyền cũng là nghĩa vụ của đương sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập, tìm kiếm các thông tin theo yêu cầu của bà H2, việc thu thập này đã đúng và đầy đủ. Nên Tòa án cấp phúc thẩm không có nghĩa vụ phải thực hiện tiếp các yêu cầu của bà H2 khi bà không có bất kỳ thông tin tài liệu, chứng cứ nào mới và khác. Nên bác yêu cầu kháng cáo này.
Trường hợp có xuất hiện thêm tài liệu, chứng cứ thể hiện là di sản hợp pháp của ông C2 để lại thì mà chưa được giải quyết thì khi có yêu cầu sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bà H2 còn kháng cáo yêu cầu: Xem xét về ý kiến từ chối nhận di sản của bà Bùi Thị L là vợ ông Trương Đình C2. Yêu cầu giao phần thừa kế của bà L cho bà H2. Vì cho rằng ý chí của bà L đã từ chối nhận di sản thể hiện tại biên bản lấy lời khai (của Tòa án nhân dân huyện châu T, tỉnh Long An, Bút lục số 487), nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn tiến hành lấy lời khai trực tiếp tại nhà đối với bà Bùi Thị L. Từ lời khai này Tòa án cấp sơ thẩm đã làm căn cứ để áp dụng quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 644 Bộ Luật dân sự năm 2015 để chia thừa kế làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà H2.
- Căn cứ theo Công văn số 426/UBND ngày 21/5/2019 của Ủy ban nhân dân Phường B3, Quận E (BL số 432) giữa ông Trương Đình C2 và bà Bùi Thị L có đăng ký kết hôn số 67, ngày 17/6/2010, không có thông tin về con ruột, con nuôi. Như vậy, bà L là vợ hợp pháp của ông C2, là hàng thừa kế thứ nhất của ông C2. Ngoài bà L là vợ ông C2 không có còn ai khác là hàng thừa kế thứ nhất, nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định những người thừa kế của ông C2 là đúng quy định.
- Việc lấy lời khai trực tiếp đối với bà Bùi Thị L ngày 23/6/2023 (BL số 694) của Tòa án nhân dân Quận 6 có xác nhận của Ủy ban xã T, huyện C, Tỉnh Long An là đúng quy định pháp luật, và có nội dung như sau "Nay các cháu của ông C2 có tranh chấp di sản thừa kế của ông C2 thì bà có yêu cầu nhận phần di sản thừa kế của ông C2. Phần di sản bà được hưởng của ông C2 theo quy định của pháp luật bà yêu cầu được chia đều cho tất cả các cháu của ông C2 hiện nay"...
Như vậy, ý chí bà L không phải khước từ, từ chối nhận di sản, mà bà L xác định rõ phần thừa kế của bà được hưởng từ ông C2 thì sẽ chia cho các đồng thừa kế khác (là các cháu của ông C2) theo quy định của pháp luật, đây là quyền định đoạt của bà L. Việc lấy lời khai bà L của Tòa án cấp sơ thẩm để làm rõ ràng, đầy đủ ý kiến của đương sự cũng là nhằm giải quyết đúng với nguyện vọng ý chí của bà L là đúng theo quy định tại Điều 98 Bộ luật tố tụng dân sự, và cũng là thể hiện trách nhiệm của Tòa án cấp sơ thẩm.
Sau thời điểm lập biên bản ngày 23/6/2013, bà L cũng không có văn bản nào thay đổi ý kiến khác, ngay cả sau khi bản án sơ thẩm đã tuyên bà L cũng không kháng cáo. Như vậy, ý chí nguyện vọng của bà L đã rõ ràng, hợp pháp, đúng pháp luật nên cần phải tôn trọng thực hiện. Do đó, bà H2 kháng cáo đòi bác bỏ ý chí tự định đoạt của bà L là không có cơ sở chấp nhận, nên bác yêu cầu kháng cáo này.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H2 còn xuất trình một chứng cứ mới là giấy mượn tài sản (vàng) của ông Trương Đình C2. Bà H2 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử bổ sung đối với nghĩa vụ trả nợ của ông C2. Tuy nhiên đây là chứng cứ hoàn toàn mới, chưa được xuất trình và xem xét tại Tòa án cấp sơ thẩm, toàn bộ các các đương sự có mặt tại phiên tòa phủ nhận, không đồng ý. Xét thấy, đây là yêu cầu mới của bà H2 là một quan hệ pháp luật khác, nếu bà H2 có yêu cầu giải quyết thì sẽ xem xét bằng một vụ án khác theo quy định pháp luật.
Từ những nhận định trên, bác toàn bộ kháng cáo của bà H2.
- Đối với yêu cầu kháng cáo của ông N: Như nhận định trên, ông N có yêu cầu kháng cáo giống với yêu cầu của bà H2 là phần số tiền tiết kiệm được gửi vào Ngân hàng, cũng như bà H2, ông N không có chứng cứ nào chứng minh. Cũng không biết rõ về số tiền gửi này cũng như thông tin để Tòa án xem xét. Ngoài đơn kháng cáo, ông N cũng không có chứng cứ nào chứng minh. Nên không được chấp nhận.
Ông N còn có yêu cầu đối với phần di sản của ông Nguyễn Bạch V. Ông V cũng là anh em ruột với bà S, bà H2, ông N. Ông N cho rằng việc chia thừa kế cho bà S là chưa đúng vì cho rằng bà S không có công sức trong việc chăm sóc ông V. Nhưng xét thấy, bà S là người giám hộ cho ông V, cùng sinh sống trực tiếp nuôi dưỡng ông V đến khi qua đời. Bà S cũng là người trực tiếp lo ma chay thờ cúng. Tòa án cấp sơ thẩm chia thừa kế là đúng pháp luật, phù hợp đạo lý. Nên bác kháng cáo của ông N.
- Từ các lẽ trên, giữ nguyên bản án sơ thẩm, bác toàn bộ kháng cáo của đương sự.
[3] Các phần khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành.
[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát:
Đối với kháng nghị: Xét thấy phần kháng nghị về đưa người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Bạch V (chết năm 2022) là bà Nguyễn Ngọc S, Nguyễn Chinh N và Nguyễn Thị Ngọc H2. Những người này đã được Tòa án cấp sơ thẩm đưa vào tham gia với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án, cũng đã được giải quyết đầy đủ đảm bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của họ, nên không bị ảnh hưởng thiệt hại về quyền lợi, hơn nữa Tòa án cấp sơ thẩm có đã ban hành Quyết định sửa chữa bổ sung số 46/TB-SCBSBA ngày 29/8/2023, nên tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H chỉ kiến nghị rút kinh nghiệm, nên ghi nhận ý kiến này. Các phần nội dung kháng nghị khác, Viện kiểm sát Thành phố H đã rút kháng nghị nên Hội đồng xét xử đình chỉ.
Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử bác các yêu cầu kháng cáo của đương sự, giữ nguyên Bản án 128/2023/DS-ST ngày 17/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Đương sự kháng cáo không phải chịu do là người cao tuổi, được miễn án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
- Đình chỉ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 35/QĐ-VKS-DS ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 ban hành.
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc H2, ông Nguyễn Chinh N.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 128/2023/DS-ST ngày 17/8/2023 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh được sửa chữa theo Quyết định sữa chữa bổ sung Bản án sơ thẩm số 46/QĐ-SCBSBA ngày 07/9/2023, Quyết định sữa chữa bổ sung Bản án sơ thẩm 46A/ QĐ-SCBSBA ngày 07/9/2023, của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh :
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trương Duy H về việc chia di sản thừa kế của ông Trương Đình C và bà Nguyễn Thị C1.
- Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Ngọc H2 về việc chia di sản thừa kế của ông Trương Đình C2 theo di chúc lập ngày 20/5/2014.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Ngọc H2 về việc trích công sức tôn tạo di sản thừa kế với số tiền 295.000.000 đồng.
- Ghi nhận bà Bùi Thị L tự nguyện tặng cho các cháu của ông C2, gồm: Bà Tạ Thị Hoàng H1, ông Tạ Văn T1, bà Nguyễn Thị Ngọc H2, ông Nguyễn Chinh N, bà Nguyễn Thị Ngọc S, ông Nguyễn Bạch V, ông Trương Duy H, bà Trương Thị Thu H4, bà Trương Thị Thiện H5 toàn bộ phần di sản thừa kế bà L được thừa hưởng của ông Trương Đình C2 là 735.762.540 đồng.
- Di sản thừa kế được chia cụ thể như sau:
- Bà Tạ Thị Hoàng H1, ông Tạ Văn T1 mỗi người được hưởng 1/2 di sản của bà Trương Thị H6 là 183.940.635 đồng + phần của bà Bùi Thị L tặng cho là 81.751.393 đồng = 265.692.028 đồng.
- Ông Trương Duy H, bà Trương Thị Thu H4, bà Trương Thị Thiện H5, mỗi người được hưởng 1/3 di sản của ông B là 122.627.091 đồng + phần của bà Bùi Thị L tặng cho là 81.751.393 đồng = 204.378.484 đồng.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc H2 được hưởng phần theo di chúc của ông Trương Đình C2 là 367.881.270 đồng + phần của bà Trương Thị T2 là 91.970.318 đồng + phần của bà Bùi Thị L tặng cho là 81.751.393 đồng + phần của ông Nguyễn Bạch V là 43.430.428 đồng = 585.033.409 đồng.
- Ông Nguyễn Chinh N được hưởng phần của bà Trương Thị T2 là 91.970.318 đồng + phần của bà Bùi Thị L tặng cho là 81.751.393 đồng + phần của ông Nguyễn Bạch V là 43.430.428 đồng = 217.152.139 đồng;
- Bà Nguyễn Thị Ngọc S được hưởng phần của bà Trương Thị T2 là 91.970.318 đồng + phần của bà Bùi Thị L tặng cho là 81.751.393 đồng + phần của ông Nguyễn Bạch V là 86.860.855 đồng = 260.582.566 đồng.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trương Duy H đối với số tiền 30.232.896 đồng (234.611.380 đồng - 204.378.484 đồng).
- Ghi nhận Ủy ban nhân dân Quận F đồng ý chi trả cho các đồng thừa kế số tiền mà các đồng thừa kế được hưởng từ số tiền bồi thường căn nhà số A đường P sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà Tạ Thị Hoàng H1, ông Tạ Văn T1, bà Nguyễn Thị Ngọc H2, ông Nguyễn Chinh N, bà Nguyễn Thị Ngọc S, ông Trương Duy H, bà Trương Thị H4, bà Trương Thiện H5 có quyền liên hệ với Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng Quận F để hoàn tất các thủ tục nhận số tiền tương ứng với kỳ phần được chia nêu trên.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Ngọc H2 đối với bà Tạ Thị Hoàng H1 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản:
Buộc bà Tạ Thị Hoàng H1 có nghĩa vụ phải trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc H2 tổng số tiền nợ là 26.000.000 đồng.
Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bà H2 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà H1 không trả cho bà H2 số tiền nêu trên thì hàng tháng bà H1 còn phải trả cho bà H2 số tiền lãi chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc H2 yêu cầu được hưởng số tiền gửi tiết kiệm 540.000.000 đồng của ông Trương Đình C2 được tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự thu thập đủ chứng cứ theo quy định.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Trương Duy H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 10.219.000 đồng (Mười triệu hai trăm mười chín ngàn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.750.000 theo biên lai thu số 0029191 ngày 08/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6. Ông H còn phải nộp thêm số tiền 4.469.000 đồng.
Bà Trương Thị Thiện H5 phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 10.219.000 đồng.
Bà Trương Thị Thu H4 có nhược điểm về thể chất nên được miễn án phí;
Bà Tạ Thị Hoàng H1, ông Tạ Văn T1, bà Nguyễn Thị Ngọc H2, ông Nguyễn Chinh N, bà Nguyễn Thị Ngọc S thuộc trường hợp được miễn án phí và đã có đơn xin miễn án phí dân sự theo Điều 12, Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà H2, ông N kháng cáo là người cao tuổi thuộc trường hợp miễn án phí.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Kim |
Bản án số 495/2024/DS-PT ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H về tranh chấp chia thừa kế
- Số bản án: 495/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đình chỉ Quyết định kháng nghị phúc thẩm, Không chấp nhận kháng cáo, Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 128/2023/DS-ST
