Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 495/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 13-12-2024

V/v“Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Lê Văn Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Bùi Thị Hoa
Bà Hoàng Thị Hường

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên toà.

Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 548/2024/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 497/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H (tên gọi khác: Kim T), sinh năm 1993;

Địa chỉ cư trú: K, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Kim Y, sinh năm 1975;

Địa chỉ cư trú: 6 Okgyesail B, S, Hoengseong-gun, G-do, Hàn Quốc;

Địa chỉ cư trú hiện tại: G-do, G1-si, D-gu, Goyang O, Hyundai A, Tòa 101, phòng 1102; vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:

Chị và anh Kim Y kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An vào ngày 09 tháng 05 năm 2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, cùng nhau xây đắp, vun vén hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên hiện nay, vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm sống nên tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy, chị làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Kim Y.

Về con chung: Chị và anh Kim Y có 02 con chung là Kim Y1, sinh ngày 08/6/2016 và Kim M, sinh ngày 11/02/2020. Hiện các con đang ở với anh Kim Y tại Hàn Quốc. Nếu ly hôn, chị và anh Kim Y thỏa thuận giao các con chung cho anh Kim Y chăm sóc, nuôi dưỡng đến lúc trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị và anh Kim Y tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Trần Thị Hồng H1 đang cư trú và làm việc tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam đã nộp đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, tài liệu, tạm ứng án phí, nhưng do bận công việc nên chị có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Theo bản tự khai (Có chứng nhận hợp pháp hóa lãnh sự của Đ tại Đại Hàn D), bị đơn anh Kim Y trình bày:

Anh đã biết chị Trần Thị H nộp đơn ly hôn anh tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Anh và chị H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An vào ngày 09/5/2018, trên tinh thần tự nguyện, không ai bị ép buộc. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Tuy nhiên, khoảng hai năm gần đây vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do áp lực cuộc sống, con nhỏ, công việc nhiều và vợ chồng bất đồng ngôn ngữ nên không thể chia sẻ với nhau nhiều, dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã. Cuộc sống vợ chồng ngày càng nặng nề, áp lực, không có tiếng nói chung nên không thể dung hòa được. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân, chị H đã về Việt Nam sinh sống và làm việc còn anh và các con đang ở Hàn Quốc. Do đó, chị H làm đơn ly hôn thì anh cũng đồng ý.

Về con chung: Anh và chị Trần Thị H có 02 con chung là Kim Y1, sinh ngày 08/6/2016 và Kim M, sinh ngày 11/02/2020. Hiện các con đang ở với anh tại Hàn Quốc. Nếu ly hôn, anh và chị H thỏa thuận giao các con cho anh chăm sóc, nuôi dưỡng đến lúc trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh và chị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Kim Y hiện đang cư trú và làm việc tại nước Đại Hàn D, không có điều kiện đến Việt Nam để giải quyết việc ly hôn nên anh ủy quyền cho chị Ngô Diệu T1, sinh năm 1987; địa chỉ cư trú: Tổ G, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên nộp tài liệu và nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, anh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam.

Về thẩm quyền giải quyết: Chị Trần Thị Hồng H1 đang cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Kim Y, có địa chỉ cư trú tại nước Đại Hàn D nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

Về thủ tục hòa giải: Theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án không tiến hành hòa giải được, vì bị đơn anh Kim Y không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài và anh Kim Y đề nghị không tiến hành hòa giải là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Trần Thị H đã nộp đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, tài liệu cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và chị có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Kim Y có địa chỉ cư trú tại nước Đại Hàn D, không có điều kiện đến Việt Nam để giải quyết việc ly hôn nên anh đã ủy quyền cho chị Ngô Diệu T1, sinh năm 1987; địa chỉ cư trú: Tổ G, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên nộp bản tự khai, tài liệu (có chứng nhận hợp pháp hóa lãnh sự của Đ tại Đại Hàn D) cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và anh Kim Y đề nghị xét xử vắng mặt. Các đương sự phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về tài liệu, chứng cứ mà các bên đã nộp cho Tòa án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Kim Y kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An vào ngày 09 tháng 05 năm 2018, là hôn nhân hợp pháp. Theo chị H và anh Kim Y trình bày: Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, khoảng hai năm gần đây vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng ngôn ngữ nên không thể chia sẻ với nhau nhiều, dẫn đến bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên không thể dung hòa được. Do đó, vợ chồng đã sống ly thân, chị H đã về Việt Nam sinh sống và làm việc còn anh Kim Y và các con thì đang ở Hàn Quốc. Hiện tại, chị H và anh Kim Y đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị H nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Kim Y. Về phía anh Kim Y cũng đồng ý ly hôn, thỏa thuận về việc nuôi con và không yêu cầu Tòa án chia tài sản theo yêu cầu ly hôn của chị H. Căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam; Điều 3 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị H (tên gọi khác: Kim T) và anh Kim Y.

[3]. Về con chung: Chị Trần Thị H và anh Kim Y có 02 con chung. Nay ly hôn, chị H và anh Kim Y thỏa thuận: Anh Kim Y được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con Kim Yoona, sinh ngày 08/6/2016 và Kim M, sinh ngày 11/02/2020 đến lúc các con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H và anh Kim Y tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con, phù hợp với nguyện vọng của con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình nên Tòa ghi nhận.

[4]. Về tài sản chung: Chị Trần Thị H và anh Kim Y không yêu cầu Tòa án chia tài sản khi ly hôn.

[5]. Về án phí: Chị Trần Thị H và anh Kim Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban T2 về án phí, lệ phí Tòa án; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 55; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam;

Căn cứ vào khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 2 và khoản 4 Điều 207; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị H (tên gọi khác: Kim T) và anh Kim Y.
  2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên như sau:

    Chị Trần Thị H (tên gọi khác: Kim T) và anh Kim Y có 02 con chung.

    Giao cho anh Kim Y được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con Kim Yoona, sinh ngày 08/6/2016 và Kim M, sinh ngày 11/02/2020 đến lúc các con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị H và anh Kim Y tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Sau khi ly hôn, chị Trần Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung: Chị Trần Thị H và anh Kim Y không yêu cầu Tòa án chia tài sản khi ly hôn.
  4. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0013443 ngày 11/11/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Trả lại cho chị H số tiền tạm ứng án phí 225.000 (hai trăm hai mươi lăm nghìn) đồng.

    Anh Kim Y phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn (anh Kim Y chưa nộp).

  5. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết. Anh Kim Y có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Văn Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 495/2024/HNGĐ-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 495/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger