|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 495/2024/DS-PT
Ngày: 08 - 7 - 2024
V/v Tranh chấp di sản thừa kế
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết
Các Thẩm phán:
- Ông Hoàng Minh Thịnh
- Bà Lê Thúy Cầu
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Danh Quốc Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Bá Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 59/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp di sản thừa kế”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3613/2024/QĐPT-DS ngày 14 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Tường P; sinh năm 1952, địa chỉ: 1 ĐT848, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Hữu T; nơi cư trú: 2 N, Khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp là đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền ngày 24/5/2022).
Người đại diện hợp pháp của ông T: Bà Lôi Thị D; địa chỉ: B P, Phường I, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long là đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền ngày 17/11/2023).
2. Bị đơn:
2.1. Ông Lê Tường T1, sinh năm 1950.
2.2. Bà Trần Thị Xuân L, sinh năm 1952.
2.3. Chị Lê Trần Diễm L1.
2.4. Chị Lê Trần Ngọc L2.
Cùng trú tại: C Cooper W, L, G, USA.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Lương Thái A; nơi cư trú: E Hồ X, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (các giấy ủy quyền cùng ngày 08/9/2023).
3. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Trần Thị Xuân C, sinh năm 1959.
3.2. Ông Ngô Văn H, sinh năm 1956.
Cùng trú tại: 5 N, Phường B, Thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của bà C và ông H: Ông Nguyễn T2, nơi cư trú: A L, Phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, là người đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền ngày 21/02/2020).
3.4. Ông Lê Tường K; sinh năm 1944, nơi cư trú: 1050 B, L, GA C, USA.
Người đại diện hợp pháp: Anh Lê Hữu T; địa chỉ: 2 N, Khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp là người đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền ngày 08/5/2023).
Người đại diện hợp pháp của ông T: Bà Lôi Thị D; địa chỉ: B P, Phường I, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long là đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền ngày 17/11/2023).
3.5. Bà Lê Tường V, sinh năm 1964; nơi cư trú: Ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người đại diện hợp pháp: Anh Lê Hữu T; nơi cư trú: 2 N, Khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp là người đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền ngày 14/7/2022).
Người đại diện hợp pháp của ông T: Bà Lôi Thị D; địa chỉ: B P, Phường I, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long là đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền ngày 17/11/2023).
3.6. Anh Lê Trung D1, sinh 1967.
3.7. Anh Lê Cao H1.
3.8. Anh Lê Trung K1.
3.9. Chị Lê Thị Hồng N.
3.10. Bà Ngô Thị Ê.
Cùng trú tại: 4 đường C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.11. Chị Lê Thị Anh T3.
3.12. Anh Lê Trường A1.
3.13. Bà Phạm Thị V1, sinh 1948, nơi cư trú: D C, Phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp: Anh Nguyễn Thanh N1 cùng nơi cư trú của bà V1 là người đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền ngày 07/11/2022).
4. Người kháng cáo: Đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Lương Thái A; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Xuân C, ông Ngô Văn H và ông Lê Trung D1.
Tại phiên tòa, có mặt ông D1, bà A và bà D, các đương sự còn lại vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 10/8/2019, đơn khởi kiện bổ sung ngày 26/9/2019 của nguyên đơn Lê Tường P và tại các biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án ông P trình bày:
Cha ông là cụ Lê Văn T4 (chết năm 1976), mẹ ông là cụ Lê Thị B (chết năm 2004) có tất cả 05 người con gồm: Lê Tường H2, Lê Tường T1, Lê Tường K, Lê Tường P và Lê Tường V, cụ T4 và cụ B không có con nuôi, không có con riêng. Ông H2 chết năm nào không nhớ có vợ là bà Lê Anh T3 (Lê Tho A2) và các con gồm: Lê Trung D1, Lê Cao H1, Lê Thị Anh T5, Lê Trung K1, Lê Thị Hồng N và Lê Tường A3.
Cha mẹ ông có thửa đất số 70 diện tích 1.430m2 tại Khóm A, Phường C, thị xã V (nay là thành phố V), tỉnh Vĩnh Long. Vào năm 1987 khi đó cụ B già yếu không sử dụng đất được nên có nói với ông cho đất ông T1 thì ông P đồng ý, vì lúc này bản thân ông P làm việc ở Đồng Tháp không có nhu cầu sử dụng đất nên ông có ký tên vô hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T1. Ông T1 đăng ký và được cấp giấy chứng nhận thành 02 thửa là thửa số 10 diện tích 99,1m2 và thửa số 16 diện tích 1.641,7m2. Năm 2002 ông T1 đi định cư ở nước ngoài nên chuyển nhượng lại toàn bộ thửa 02 thửa đất cho em vợ ông là bà Trần Thị Xuân C. Năm 2004 cụ B chết, ông T1 định cư nước ngoài đất bỏ hoang không ai sử dụng, đến năm 2019 ông P về hưu có nhu cầu sử dụng đất nên đi trích lục hồ sơ mới biết phần đất này ông T1 đã bán cho bà C, bà C đăng ký được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 10 đổi thành thửa số 3 và thửa 16 đổi thành thửa số 4.
Năm 2022 nhà nước thu hồi 15,9m2 đất thửa số 3 để làm đường, bồi thường số tiền 58.342.950₫ bà C đã nhận xong. Hiện nay bà C đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 4 diện tích 1.617,9m2 (qua đo đạc thực tế còn 1.604,7m2) và thửa số 3 diện tích 76,3m2 (qua đo đạc thực tế còn 64,4m2).
Người đại diện hợp pháp của ông P trình bày, sở dĩ ông P đồng ý ký tên cho đất ông T1 là vì ông P ở xa nên giao đất cho ông T1 với điều kiện ông T1 phải nuôi dưỡng cụ B và chăm sóc mồ mã ông bà, tôn tạo giữ gìn đất, nếu ông T1 không hoàn thành trách nhiệm thì phải giao đất lại cho người trong họ quản lý, tuy nhiên ông T1 không làm tròn trách nhiệm nên ông P phải rước cụ B về nhà ông P để chăm sóc và hiện nay ông T1 định cư tại Mỹ nên cũng không chăm sóc mồ mã ông bà do đó ông P mới khởi kiện. Việc ông T1 chuyển nhượng hết phần đất này cho bà C là không đúng, ông T1 chỉ có quyền chuyển nhượng phần thừa hưởng của ông T1 là 1/5, diện tích còn lại là phần thừa hưởng của các anh chị em khác, ông T1 không có quyền đem chuyển nhượng.
Do đó, ông P khởi kiện yêu cầu tuyên bố vô hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T1 với bà C, chia thừa kế theo pháp luật di sản của cụ B và cụ T4 để lại là 02 thửa đất nêu trên cho 05 người con, ông P được thừa hưởng 1/5 tương ứng với 337m2 đất.
* Tại tờ tường trình ngày 20/01/2021 và ngày 19/07/2022 của bị đơn ông Lê Tường T1, bà Trần Thị Xuân L, chị Lê Trần Diễm L1 và chị Lê Trần Ngọc L2 trình bày: năm 1997 khi mẹ ông T1 là cụ B còn sống, cụ B và ông P đồng thuận cho ông T1 phần đất tại số A khóm A, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, ông T1 làm thủ tục sang tên được Nhà nước chấp thuận cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ của ông vào năm 2000 thành thửa số 10 diện tích 99,1m2 và thửa số 16 diện tích 1.641,7m2. Như vậy, kể từ năm 2000 phần đất này thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông T1. Thời điểm đó, phần đất này không có giá trị kinh tế, không điện, không nước, lầy lội vào mùa mưa và ngập lụt mùa nước nổi. Năm 2002 gia đình ông T1 chuyển nhượng phần đất này lại cho bà Trần Thị Xuân C và sử dụng số tiền này để làm chi phí cho gia đình đi định cư ở nước ngoài. Việc gia đình ông chuyển nhượng đất cho bà Xuân C là hợp pháp, kể từ năm 2002 thì phần đất này thuộc quyền sử dụng của bà C. Nay ông P yêu cầu chia thừa kế phần đất này là nằm ngoài khả năng của gia đình ông T1.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, quyết định:
- Tuyên bố vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 03/4/1997 giữa cụ Lê Thị B với ông Lê Tường T1 đối với thửa số 70 tờ bản đồ số 11, phường C, thị xã V (nay là thành phố V), tỉnh Vĩnh Long.
- Tuyên bố vô hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Tường T1 với bà Trần Thị Xuân C ký ngày 20/6/2022 đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ số 4, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
- Tuyên bố vô hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Tường T1 với bà Trần Thị Xuân C ký ngày 20/6/2022 đối với thửa đất số 10, tờ bản đồ số 4, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
- Công nhận cho ông Lê Tường P và bà Lê Tường V được quyền sử dụng chung 300,4m2 đất cây lâu năm (CLN) thuộc thửa số 4(16)-1, tờ bản đồ số 4, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, theo sơ đồ vị trí khu đất của Trung tâm kỹ thuật Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V (kèm theo), gồm các mốc 5, 16, 15, 14, 13, 12, e, d, c, 5.
- Công nhận diện tích 1.104,2m2 (trong đó có 120m2 đất ở đô thị, còn lại là đất cây lâu năm) thuộc thửa số 4(16)-2 gồm các mốc c, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 19, 18, e, d, c và 200,1m2 (đất cây lâu năm) thuộc thửa số 4(16)-3 gồm các mốc 11, 19, 18, e, 12, 11, cùng tờ bản đồ số 4, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long theo sơ đồ vị trí thửa đất của Trung tâm kỹ thuật Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V (kèm theo) thuộc quyền sử dụng của bà Trần Thị Xuân C và ông Ngô Văn H.
Công nhận diện tích 64,4m2 (đất cây lâu năm) thuộc thửa số 3(10), tờ bản đồ số 4, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, theo sơ đồ vị trí thửa đất của Trung tâm kỹ thuật Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh V kèm theo gồm các mốc 1, 2, 3, a, b, 1 thuộc quyền sử dụng của bà Trần Thị Xuân C và ông Ngô Văn H.
- Buộc ông Lê Tường T1 và bà Trần Thị Xuân L có nghĩa vụ bồi thường cho bà Trần Thị Xuân C và ông Ngô Văn H số tiền 834.751.500đ (Tám trăm ba mươi bốn triệu bảy trăm năm mươi mốt ngàn năm trăm đồng).
- Buộc ông Lê Tường T1 và bà Trần Thị Xuân L có nghĩa vụ hoàn trả giá trị kỷ phần của ông Lê Tường H2 bằng số tiền 390.143.500đ (ba trăm chín mươi triệu một trăm bốn mươi ba ngàn năm trăm đồng) cho những người thừa kế của ông H2, tạm giao số tiền này cho Lê Trung D1 quản lý, những người thừa kế của ông Lê Tường H2 nếu có yêu cầu thì có quyền khởi kiện một vụ án khác để tranh chấp số tiền này với ông Lê Trung D1.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
* Sau khi xét xử sơ thẩm: Đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Lương Thái A; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Xuân C, ông Ngô Văn H và ông Lê Trung D1 kháng cáo bản án sơ thẩm số 23/2023/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Ngày 09/10/2023 bà Lương Thái A, bà Trần Thị Xuân C và ông Ngô Văn Hrút toàn bộ nội dung kháng cáo. Vì thấy rằng bản án sơ thẩm đã xử đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người kháng cáo ông Lê Trung D1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với việc rút kháng cáo của bà Lương Thái A, bà Trần Thị Xuân C và ông Ngô Văn H; Đồng thời đề nghị bác kháng cáo của ông D1, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Do trong suốt quá trình xét xử sơ thẩm ông D1 không hợp tác, không yêu cầu đo đạc xác định vị trí đất nên Tòa sơ thẩm tuyên nhận kỷ phần bằng giá trị là phù hợp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
- Tại phiên tòa, các đương sự vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Thấy rằng các đương sự đã được tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần; Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật.
- Đối với việc rút kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Lương Thái A; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Xuân C, ông Ngô Văn H. Thấy rằng, việc rút kháng cáo là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận đình chỉ xét xử phúc thẩm theo khoản 5 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[2]. Xét yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Trung D1, thấy rằng:
[2.1]. Quyết định bản án dân sự sơ thẩm tuyên có liên quan đến ông D1:
“7. 7. Buộc ông Lê Tường T1 và bà Trần Thị Xuân L có nghĩa vụ hoàn trả giá trị kỷ phần của ông Lê Tường H2 bằng số tiền 390.143.500 đồng (ba trăm chín mươi triệu một trăm bốn mươi ba ngàn năm trăm đồng) cho những người thừa kế của ông H2, tạm giao số tiền này cho Lê Trung D1 quản lý, những người thừa kế của ông Lê Tường H2 nếu có yêu cầu thì có quyền khởi kiện một vụ án khác để tranh chấp số tiền này với ông Lê Trung D1.”
Ông D1 kháng cáo đề nghị xin nhận đất, tương đương 337m².
[2.2]. Hội đồng cấp phúc thẩm thấy rằng, di sản của cụ T4 chết để lại được xác định là ½ diện tích đất của thửa số 3 và số 4, theo đo đạc thực tế thửa số 3 là 80,3m2 (64,4m2 + 15,9m2 bị thu hồi) và thửa số 4 là 1.604,7m2, tương đương 842,5m2. Căn cứ Điều 651 Bộ luật dân sự 2015, chia di sản của cụ T4 làm 06 phần ngang nhau cho cụ B và 05 người con mỗi người một suất bằng 140,4m2 (giá trị bằng tiền là 390.143.520 đồng). Đây là kỹ phần thừa kế của ông Lê Tường H2 (01 trong 5 người con của cụ B, cụ T4 và đã chết năm 2013) được hưởng. Ông Lê Trung D1 là trong những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H2 được giao nhận kỹ phần này.
Do trong suốt quá trình tố tụng sơ thẩm, ông D1 không đến tòa án theo giấy triệu tập của Tòa và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông D1 không đồng ý tạm ngừng phiên tòa để tiến hành xác định cụ thể diện tích đất và vị trí phần đất ông yêu cầu được nhận, ông D1 yêu cầu Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Do đó, Tòa sơ thẩm tuyên nhận kỷ phần bằng giá trị là phù hợp.
[3]. Từ những phân tích, nhận định trên thấy rằng yêu cầu kháng cáo của ông D1 là không có căn cứ. Do đó, quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[4]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo ông Lê Trung D1 phải chịu 300.000 đồng.
[5]. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, 5 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Lương Thái A; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Xuân C, ông Ngô Văn H.
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Trung D1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
Tuyên xử:
- Tuyên bố vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 03/4/1997 giữa cụ Lê Thị B với ông Lê Tường T1 đối với thửa số 70 tờ bản đồ số 11, phường C, thị xã V (nay là thành phố V), tỉnh Vĩnh Long.
- Tuyên bố vô hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Tường T1 với bà Trần Thị Xuân C ký ngày 20/6/2022 đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ số 4, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
- Tuyên bố vô hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Tường T1 với bà Trần Thị Xuân C ký ngày 20/6/2022 đối với thửa đất số 10, tờ bản đồ số 4, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
- Công nhận cho ông Lê Tường P và bà Lê Tường V được quyền sử dụng chung 300,4m2 đất cây lâu năm (CLN) thuộc thửa số 4(16)-1, tờ bản đồ số 4, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, theo sơ đồ vị trí khu đất của Trung tâm kỹ thuật Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V (kèm theo), gồm các mốc 5, 16, 15, 14, 13, 12, e, d, c, 5.
- Công nhận diện tích 1.104,2m2 (trong đó có 120m2 đất ở đô thị, còn lại là đất cây lâu năm) thuộc thửa số 4(16)-2 gồm các mốc c, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 19, 18, e, d, c và 200,1m2 (đất cây lâu năm) thuộc thửa số 4(16)-3 gồm các mốc 11, 19, 18, e, 12, 11, cùng tờ bản đồ số 4, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long theo sơ đồ vị trí thửa đất của Trung tâm kỹ thuật Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V (kèm theo) thuộc quyền sử dụng của bà Trần Thị Xuân C và ông Ngô Văn H.
Công nhận diện tích 64,4m2 (đất cây lâu năm) thuộc thửa số 3(10), tờ bản đồ số 4, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, theo sơ đồ vị trí thửa đất của Trung tâm kỹ thuật Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh V kèm theo gồm các mốc 1, 2, 3, a, b, 1 thuộc quyền sử dụng của bà Trần Thị Xuân C và ông Ngô Văn H.
- Buộc ông Lê Tường T1 và bà Trần Thị Xuân L có nghĩa vụ bồi thường cho bà Trần Thị Xuân C và ông Ngô Văn H số tiền 834.751.500đ (Tám trăm ba mươi bốn triệu bảy trăm năm mươi mốt ngàn năm trăm đồng).
- Buộc ông Lê Tường T1 và bà Trần Thị Xuân L có nghĩa vụ hoàn trả giá trị kỷ phần của ông Lê Tường H2 bằng số tiền 390.143.500đ (ba trăm chín mươi triệu một trăm bốn mươi ba ngàn năm trăm đồng) cho những người thừa kế của ông H2, tạm giao số tiền này cho Lê Trung D1 quản lý, những người thừa kế của ông Lê Tường H2 nếu có yêu cầu thì có quyền khởi kiện một vụ án khác để tranh chấp số tiền này với ông Lê Trung D1.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Lê Trung D1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ vào số tiền đã nộp theo biên lai số 0014811 ngày 27/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
- Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chung Văn Kết |
Bản án số 495/2024/DS-PT ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp di sản thừa kế
- Số bản án: 495/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đình chỉ, không chấp nhận kháng cáo
