|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 495/2024/HS-PT
Ngày: 24 - 6 - 2024
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Cầu
Các Thẩm phán: Ông Phan Văn Yên
Ông Hoàng Minh Thịnh
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 343/2024/TLPT- HS ngày 26-4-2024 đối với bị cáo Phạm Minh Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2024/HSST ngày 18-3-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
Bị cáo có kháng cáo:
Phạm Minh Đ, sinh năm 1959 tại Hà Nội. Nơi cư trú tại địa chỉ: Tổ C, thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Vũ S và bà Bùi Thị H; có vợ là bà Nguyễn Thị P và 02 người con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1991; tiền án, tiền sự: Không; tại ngoại “có mặt".
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Minh Đ: Ông Nguyễn Thanh L-Luật sư Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ: Số A, đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không liên quan đến kháng cáo, không có kháng cáo nên không triệu tập
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty Cổ phần T (sau đây gọi tắt Công ty) có mã số doanh nghiệp 3801098190 được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu ngày 13/4/2015. Theo hồ sơ đăng ký kinh doanh thì Công ty có vốn điều lệ 4.000.000.000 đồng do 04 cổ đông góp vốn mỗi người 25%, gồm: bị cáo Phạm Minh Đ (sau đây gọi tắt là bị cáo), bị can Nguyễn Thị H1 (sau đây gọi tắt là bị can), ông Nguyễn Văn R và bà Nguyễn Thị H2; bà H2 là Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc, Người đại diện theo pháp luật của Công ty; ngành nghề kinh doanh: Kinh doanh, chế biến, xuất nhập khẩu hàng nông sản. Ngày 12/11/2015, Công ty có Nghị quyết miễn nhiệm bà H2 và bầu bị cáo là Chủ tịch Hội đồng quản trị và là người đại diện theo pháp luật của Công ty; bị can là Giám đốc Công ty. Ngày 30/11/2015, bị cáo và bị can làm thủ tục mỗi người mua 50% số cổ phần của bà H2. Cùng ngày, Công ty T1 kết nạp thêm thành viên góp vốn là bà Nguyễn Thị H3, tăng vốn điều lệ lên 4.500.000.000 đồng. Theo hồ sơ đăng ký kinh doanh thì Công ty đã nhiều lần đăng ký thay đổi và có 04 cổ đông góp vốn, nhưng ông R, bà H2, bà H3 chỉ đứng tên thành lập Công ty, còn thực tế không góp vốn, không tham gia vào hoạt động của Công ty, chỉ có bị cáo góp 2.000.000.000 đồng còn bị can góp vốn bằng máy móc, nhà xưởng trị giá khoảng 4.000.000.000 đồng. Bị cáo và bị can thống nhất phân công bị cáo phụ trách quản lý sản xuất còn bị can phụ trách kinh doanh.
Cuối năm 2016, bị can bàn bạc với bị cáo việc mua điều có nguồn gốc từ châu P1 để nhập khẩu bán cho các thương nhân trong nước. Để thực hiện ý định, bị can xuất cảnh sang nước Cộng hoà Mozambique tìm hiểu thị trường. Tại đây, bị can thấy chất lượng hạt điều của M không bằng Việt Nam nhưng có giá rẻ hơn rất nhiều nên muốn thu mua đưa về Việt Nam bán lại để kiếm lời. Bị can đăng ký thành lập Công ty C1 tại nước Cộng hoà Mozambique để lấy pháp nhân thu mua được 132.000 kg hạt điều thô nguyên liệu. Để tìm người mua, bị can liên lạc qua ứng dụng Z cho bà Lê Thị Thanh M1 chào bán với giá 40.000 đồng/kg hạt điều thô nhập khẩu. Sau khi thỏa thuận thì thống nhất bị can sẽ nhập 132.000 kg hạt điều thô nguyên liệu về Việt Nam bán cho bà M1 số tiền 5.280.000.000 đồng, với điều kiện bà M1 phải đặt cọc 920.000.000 đồng. Bị can cho bà M1 số tài khoản Công ty T. Đồng thời, bị can báo cho bị cáo biết việc thoả thuận mua bán với bà M1 để bị cáo trao đổi với bà M1 việc nhận tiền cọc. Ngày 11/11/2016, bà M1 chuyển khoản đặt cọc mua điều nguyên liệu với số tiền 920.000.000 đồng vào tài khoản số [...] tại Ngân hàng S1-Chi nhánh B của Công ty T. Sau khi nhận tiền thì bị cáo thông báo cho bị can biết và hai bên thống nhất sử dụng nguồn tiền này cho các hoạt động của Công ty.
Để chuyển lô hạt điều này về Việt Nam bán cho bà M1 thì bị can và bị cáo hợp thức bằng hợp đồng mua bán ngày 04/04/2017 giữa Công ty C1 và Công ty T với số lượng 132.000 kg hạt điều thô trị giá 4.434.808.620 đồng. Sau đó, bị can liên hệ qua điện thoại thuê ông Phạm Hoàng L1, Giám đốc Công ty TNHH G1 (gọi tắt Công ty G1), địa chỉ trụ sở: G9, đường Đ, phường T, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, để thực hiện dịch vụ vận chuyển và làm thủ tục Hải quan nhập khẩu lô hàng nêu trên cho Công ty T. Do nước Cộng hoà M là quốc gia không đăng ký xuất khẩu thực phẩm có nguồn gốc thực vật vào lãnh thổ Việt Nam nên ông L1 cho bị can biết số điều trên chỉ được đăng ký nhập khẩu theo loại hình nhập nguyên liệu để sản xuất xuất khẩu (mã loại hình E31) và điều kiện để được nhập khẩu theo loại hình E31 thì Công ty T phải đăng ký nơi bảo quản, sản xuất nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất, xuất khẩu với Hải quan; số điều nguyên liệu nhập khẩu phải đưa vào sản xuất và xuất khẩu ra nước ngoài theo loại hình E62 mà không được phép tiêu thụ trong nước. Bị can đồng ý và nhờ ông L1 hỗ trợ bị cáo hoàn tất các thủ tục trên và cũng thông báo cho bị cáo biết sự việc để phối hợp cùng ông L1 hoàn tất các thủ tục.
Ngày 20/6/2017, ông L1 đưa cho bị cáo ký văn bản gửi Chi cục Hải quan quản lý hàng gia công-Cục Hải quan thành phố H để đăng ký nơi bảo quản, sản xuất nguyên liệu được nhập khẩu theo loại hình nhập khẩu để sản xuất, xuất khẩu (E31). Ngày 03/7/2017 Chi cục Hải quan quản lý hàng gia công - Cục Hải quan Thành phố H kiểm tra điều kiện máy móc, nhà xưởng, cơ sở sản xuất của Công ty T, kết luận Công ty T đủ điều kiện để nhập khẩu theo loại hình nhập khẩu để sản xuất, xuất khẩu.
Ngày 01/7/2017, bị cáo ký nhận ủy quyền Giám đốc Công ty T từ bị can, được toàn quyền ký các quyết định, văn bản liên quan thủ tục Hải Quan để lấy hàng ra khỏi cảng đưa về kho hàng tại Bình Phước và các dịch vụ vận chuyển, kiểm dịch, chất lượng. Ngày 04/7/2017, bị cáo ký sao y hợp đồng mua bán, chứng từ lô hàng 132.000 kg hạt điều đưa cho ông L1 làm thủ tục mở tờ khai Hải quan số [...] tại Chi cục Hải quan quản lý hàng gia công-Cục Hải quan thành phố H để nhập khẩu 132.000 kg điều nguyên liệu theo loại hình nhập khẩu để sản xuất, xuất khẩu qua cửa khẩu Cảng C-Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi lô hạt điều này được thông quan, bị can thông báo cho bà M1 biết để đến Cảng C-Thành phố Hồ Chí Minh nhận hàng. Do không có đủ tiền để thanh toán số tiền còn lại như đã thoả thuận mua với bị can nên bà M1 rủ thêm hai em trai là ông Lê Hữu H4 và ông Lê Hữu H5 cùng góp tiền mua 132.000 kg nhập khẩu của Công ty T và để bà M1 đại diện mua. Bà M1 liên lạc điện thoại cho bị can cử người dẫn mình đi xem lô điều thì bị can gọi điện thoại báo cho bị cáo biết việc dẫn bà M1 đi xem hàng. Bị cáo phân công cho bà Phan Thúy D-nhân viên và ông Triệu Đình G-tài xế Công ty T (không xác định được nhân thân, lai lịch) dẫn bà M1, ông H4 và ông H5 đến Cảng C-Thành phố Hồ Chí Minh để kiểm tra lô hàng. Khi đến Cảng C-Thành phố Hồ Chí Minh, bà D liên hệ ông L1 dẫn đến nơi bảo quản lô điều. Sau khi kiểm tra thì bà M1 liên lạc điện thoại với bị can thống nhất mua lô hàng trên. Cho rằng bà M1 là người của Công ty T đến nhận hàng nên ông L1 đã chỉ đạo nhân viên lái xe (không xác định được nhân thân) của Công ty G1 đi cùng với bà D, ông G để vận chuyển 132.000 kg điều nhập khẩu để giao bà M1 tại cơ sở sản xuất M2, địa chỉ: khu phố L, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Tại đây, sau khi kiểm tra định mức thu hồi điều nhân từ 01 kg hạt điều thô của lô hàng nói trên thấy đạt tỷ lệ thấp nên bà M1 điện thoại đề nghị bị can giảm giá. Sau khi thỏa thuận thì bị can đồng ý bán số điều nói trên với giá 36.000đ/kg x 132.000 kg = 4.752.000.000 đồng, cho giảm thêm 32.000.000 đồng nên bà M1 chỉ phải thanh toán cho bị can là 4.720.000.000 đồng. Do đã đặt cọc 920.000.000 đồng nên ngày 08/7/2017, bà M1 đã chuyển khoản 3.800.000.000 đồng vào từ tài khoản số [...] tại Ngân hàng TMCP S1-Chi nhánh B vào tài khoản số [...] của bị cáo tại Ngân hàng TMCP S2-Chi nhánh B thanh toán số tiền mua lô điều nói trên. Sau đó, bà M1, ông H4 và ông H5 thống nhất chia số điều cho mỗi người là 44.000 kg tương ứng với số tiền góp mua điều là 1.573.333.000 đồng. Để đưa số điều nguyên liệu nhập khẩu vào sản xuất thì ông H5 vận chuyển về cơ sở sản xuất tại khu phố P, phường P, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Ông H4 vận chuyển về cơ sở sản xuất của ông H4 tại thôn C, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước. Còn bà M1 thì sản xuất tại cơ sở M2 của mình. Toàn bộ số điều nhân được sản xuất từ số điều nhập khẩu đã được bà M1, ông H4 và ông H5 bán cho khách hàng trong nước nhưng không xuất hoá đơn, không ghi chép sổ sách, không kê khai báo cáo thuế nên không xác định được đã bán cho ai, thu được bao nhiêu tiền. Do đó Cơ quan CSĐT không thu hồi được số nhân điều có nguồn gốc được sản xuất từ số điều nguyên liệu nhập khẩu nói trên.
Sau khi nhận được tiền thì bị cáo thông báo cho bị can biết, bị can nói bị cáo chuyển 1.707.260.000 đồng vào tài khoản số 1010143703001 mở tại Ngân hàng TMCP Q của bà Nguyễn Thị Lan A, SN 1980, ngụ tại: số I, đường số A, khu dân cư P, phường P, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để trả nợ cho bị can do trước đây vay tiền phục vụ cho hoạt động kinh doanh của Công ty [BL 2025-2026], còn lại 2.092.740.000 đồng thì bị can và bị cáo thống nhất sử dụng để chi cho các hoạt động của Công ty.
Đến tháng 7/2021, Cục kiểm tra sau thông quan-T2 tiến hành kiểm tra hàng hóa tồn kho và tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty T. Bị can và bị cáo đã khai báo với Cơ quan Hải quan là toàn bộ số điều nhập khẩu nêu trên vẫn đưa vào sản xuất cho ra 26,4 tấn điều nhân nhưng không đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu nên Công ty T đã bán 15.740,8 kg điều nhân, trị giá: 3.788.810.560 đồng cho Công ty TNHH D1, địa chỉ: D, khu phố B, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương và bán 3.173,2 kg điều nhân, trị giá: 564.829.600 đồng cho Công ty TNHH T3, địa chỉ: D đường N, tổ G, khu phố F, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Còn lại 7.486 kg là điều nhân phế phẩm, điều sâu nên Công ty bán cho khách vãng lai nhưng không làm hợp đồng, không xuất hóa đơn thu được số tiền 88.600.000 đồng. Căn cứ kết quả kiểm tra, xác định Công ty T tự ý chuyển tiêu thụ nội địa khi chưa khai báo Hải quan, có dấu hiệu của tội buôn lậu nên đến ngày 19/11/2021, Cục kiểm tra sau thông quan đã chuyển hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tội phạm cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B để điều tra theo quy định
Kết quả xác minh tại Chi cục Hải quan quản lý hàng gia công-Thành phố Hồ Chí Minh xác định toàn bộ số điều nhập khẩu gồm 132.000 kg điều thô nhập khẩu theo loại hình E31 mà Công ty T nhập khẩu đến nay chưa xuất khẩu theo quy định. Quá trình điều tra, bị can và bị cáo đã thừa nhận hành vi tự ý chuyển tiêu thụ nội địa 132.000 kg hạt điều nhập khẩu nói trên cho bà Lê Thị Thanh M1, không có việc sản xuất cho ra điều nhân bán cho Công ty TNHH D1 và Công ty TNHH T3 như đã khai báo với Cơ quan Hải quan. Số điều nhân bán cho các Doanh nghiệp này có nguồn gốc thu mua nội địa. Qua điều tra xác định việc Công ty T mua bán hạt điều nội địa đã thực hiện việc kê khai báo cáo thuế tại Chi cục thuế huyện P (nay là Chi cục thuế khu vực P4 – B - P) theo quy định. Đến nay, toàn bộ số điều trên đã tiêu thụ hết trong nước nên không thể thu hồi.
Ngày 04/5/2023, bị can Nguyễn Thị H1 đã xuất cảnh sang Vương quốc Campuchia bằng hộ chiếu số N1795869 tại cửa khẩu X thuộc xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Ngày 08/6/2023, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can số 01, Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can số 02 và Quyết định truy nã số 03 đều đối với bị can Nguyễn Thị H1.
Bị cáo Phạm Minh Đ đã tự nguyện nộp số tiền 221.740.431 đồng để khắc phục thiệt hại cho Nhà nước.
Kết luận giám định số 16 ngày 08/4/2022 của Phòng K Công an tỉnh B xác định: Chữ ký họ tên Phạm Minh Đ trên các tài liệu cần giám định (gồm: COMMERCIAL INVOICE số 001/2017 ngày 15/4/2017; PACKING LIST số 001/2017 ngày 15/4/207; THÔNG BÁO CƠ SỞ SẢN XUẤT, NƠI LƯU TRỮ NL, VT, MMTB VÀ SP XUẤT KHẨU ngày 20/6/2017; BIÊN BẢN KIỂM TRA CƠ SỞ SẢN XUẤT số 57/BB-KTCSSX ngày 03/7/2017; GIẤY ĐĂNG KÝ KIỂM DỊCH THỰC VẬT năm 2017) là chữ ký của bị cáo Phạm Minh Đ.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 08/2024/HS-ST ngày 18-3-2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước quyết định:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 188; các điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 38, 50, 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Minh Đ 07 (bảy) năm tù về tội “Buôn lậu”; thời hạn tù kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,
- Buộc bị cáo Phạm Minh Đ có trách nhiệm phải tiếp tục nộp ngân sách Nhà nước số tiền truy thu còn lại là 1.256.528.540 đồng.
- Lưu những tài liệu, chứng cứ theo hồ sơ vụ án gồm các hồ sơ sau đây: Tài liệu do Chi cục Hải quan quản lý hàng gia công-Cục Hải quan Thành phố H cung cấp liên quan bộ hồ sơ Hải quan số [...] của Công ty T; tài liệu do Công ty L3 P2 cung cấp liên quan đến việc nhập khẩu 132.000 kg điều theo loại hình E31 có nguồn gốc nước Cộng hòa M và các tài liệu liên quan Công ty T
Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Ngày 20-3-2024, bị cáo Phạm Minh Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Phạm Minh Đ giữ nguyên kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt mức án là quá nặng nên đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến và kết luận: Bị cáo đã giúp sức tích cực cho Nguyễn Thị H1 chuyển tiêu thụ nội địa 132.000 kg hạt điều thô nhập khẩu trị giá 4.434.808.620 đồng mà không khai báo Hải quan, gây thất thu số tiền thuế nhập khẩu là 221.740.431 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phạm Minh Đ về tội “Buôn lậu” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 188 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên xử phạt 07 năm tù đối với bị cáo Phạm Minh Đ là phù hợp. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình chứng cứ mới tiếp tục khắc phục số tiền 256.528.540 đồng và đã nộp 200.000 đồng án phí sơ thẩm thể hiện sự ăn năn hối cải của bị cáo Đ. Bởi vậy, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, giảm một phần hình phạt cho bị cáo Phạm Minh Đại t 09 đến 12 tháng tù.
Luật sư Nguyễn Thanh L bào chữa cho bị cáo Đ thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Bởi lẽ, bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS, ngược lại bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 như Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Phạm Minh Đ nộp khác phục số tiền 256.528.540 đồng.và 200.000 đồng tiền nộp án phí sơ thẩm. Do đó kính mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo 02 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Về tính hợp lệ đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Minh Đ: Đơn kháng cáo của bị cáo được làm trong thời hạn luật định. Do đó, đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Trên cơ sở tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo Phạm Minh Đ thể hiện: Chỉ vì mục đích thu lợi bất chính, bị cáo Phạm Minh Đ (nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị, người đại diện theo pháp luật của Công ty) và là người nhận uỷ quyền của nguyên Giám đốc Công ty T – bà Nguyễn Thị H1, bị cáo đã chuyển tiêu thụ nội địa quả Điều nhập khẩu theo loại hình E31 (nhập khẩu để sản xuất, xuất khẩu), số lượng 132.000 kg trị giá 4.434.808.620 đồng mà không khai báo Hải quan, gây thất thu số tiền thuế nhập khẩu là 221.740.431 đồng. Bị cáo đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi nhưng cố tình phạm tội. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phạm Minh Đ về tội “Buôn lậu” theo quy định tại quy định tại điểm a khoản 4 Điều 188 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Minh Đ gây thiệt hại số tiền thuế là 221.740.431 đồng nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo và có tác dụng răn đe, trừng trị và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã nộp khắc phục toàn bộ số tiền thuế nhập khẩu thất thu với tổng số tiền 221.740.431 đồng; bản thân bị cáo có thành tích xuất sắc công tác trong ngành Công an một thời gian dài và được tặng thưởng nhiều giấy khen, bằng khen; có vợ là người có công với Cách mạng. Các tình tiết trên là những tình tiết giảm nhẹ tại cấp sơ thẩm quy định tại các điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc, bị cáo tiếp tục nộp khắc phục hậu quả số tiền 221.740.431 đồng và 200.000 đồng án phí sơ thẩm. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự thể hiện sự ăn năn, hối lỗi thật sự của bị cáo Đ. Do đó, cần thiết tiếp tục áp dụng để bị cáo được hưởng một phần sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo, sửa chữa lỗi lầm sớm trở về đoàn tụ gia đình và thành người công dân có ích cho xã hội.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Minh Đ. Sửa bản án sơ thẩm.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[4] Về án phí:
Đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Minh Đ được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ Điều 135, Điều 136; Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 21, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
- Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Minh Đ. Sửa bản án sơ thẩm hình sự số 08/2024/HSST ngày 18-3-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Về án phí hình sự phúc thẩm:
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (24 - 6 - 2024)./.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 188; các điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 38, 50, 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Minh Đ 05 (năm) năm tù về tội “Buôn lậu”, thời hạn tù kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Bị cáo Phạm Minh Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thúy Cầu |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Các Thẩm phán Phan Văn Y – H |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thúy C |
Bản án số 495/2024/HS-PT ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội buôn lậu
- Số bản án: 495/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Buôn lậu
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Minh Đ. Sửa bản án sơ thẩm hình sự số 08/2024/HSST ngày 18-3-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước
