TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 4942/2024/KDTM-ST
Ngày: 30/9/2024
“V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Cảnh Long
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Mai Thanh Giàu
- Bà Đặng Thị Thu Oanh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Lê Quang Đạo – Kiểm sát viên.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 87/2024/TLST-KDTM ngày 14 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6660/2024/QĐXXST-KDTM ngày 14 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7669/2024/QĐST-KDTM ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty cổ phần T1.
Địa chỉ: I N, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Cái Nhật T (có mặt)
Theo giấy ủy quyền số: UQ-LEG-12/24.380 ngày 29/02/2024
Bị đơn: Công ty cổ phần X.
Địa chỉ: E đường A, phường A, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tấn P (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và lời khai tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền nguyên đơn trình bày:
Ngày 18/9/2020, Công ty cổ phần T1 và Công ty cổ phần X có ký hợp đồng mua bán hàng hóa số HĐMB-CS-02/20-412. Theo hợp đồng Công ty T1 bán hàng hóa cho Công ty X là các sản phẩm sơn, chất chống thấm, bột trét cho Công ty X, tổng giá trị hợp đồng là 2.479.652.633 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty X thanh toán tiền hàng đầy đủ theo từng đơn hàng. Tuy nhiên, khi Công ty T1 giao các đơn hàng sau thì Công ty X không thanh toán tiền hàng. Hiện tại, Công ty X còn nợ Công ty T1 tiền hàng chưa thanh toán là 142.624.374 đồng. Công ty T1 đã yêu cầu Công ty X trả nợ nhiều lần nhưng vẫn không trả nợ.
Nay, Công ty cổ phần T1 yêu cầu Công ty cổ phần X trả số tiền nợ mua hàng hóa là 142.624.374 đồng và tiền lãi tính từ ngày 22/4/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 30/9/2024 (02 năm 05 tháng 08 ngày) với lãi suất 10%/năm là (142.624.374 đồng x 10% x 2) + (142.624.374 đồng x 10% x 5/12) + (142.624.374 đồng x 10% x 1/12 x 8/30) = 34.784.500 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập bị đơn Công ty cổ phần X và đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Tấn P hợp lệ nhưng Công ty cổ phần X và đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Tấn P vẫn vắng mặt không có lý do; đại diện nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được và vụ án được đưa ra xét xử công khai.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Thẩm phán có vi phạm thời hạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, không tống đạt cho đại diện theo pháp luật của bị đơn.
- - Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.
- - Về giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét đơn khởi kiện Công ty cổ phần T1, Hội đồng xét xử nhận thấy đây là vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự và bị đơn có trụ sở tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tiến hành thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ đối với bị đơn Công ty cổ phần X và đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Tấn P hợp lệ nhưng Công ty cổ phần X và đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Tấn P vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Xét yêu cầu của đương sự:
Xét, Ngày 18/9/2020, Công ty cổ phần T1 và Công ty cổ phần X có ký hợp đồng mua bán hàng hóa số HĐMB-CS-02/20-412. Theo hợp đồng Công ty T1 bán hàng hóa cho Công ty X là các sản phẩm sơn, chất chống thấm, bột trét cho Công ty X, tổng giá trị hợp đồng là 2.479.652.633 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty X thanh toán tiền hàng đầy đủ theo từng đơn hàng. Tuy nhiên, khi Công ty T1 giao các đơn hàng sau thì Công ty X không thanh toán tiền hàng. Hiện tại, Công ty X còn nợ Công ty T1 tiền hàng chưa thanh toán là 142.624.374 đồng. Công ty T1 đã yêu cầu Công ty X trả nợ nhiều lần nhưng vẫn không trả nợ.
Nay, Công ty cổ phần T1 yêu cầu Công ty cổ phần X trả số tiền nợ mua hàng hóa là 142.624.374 đồng và tiền lãi tính từ ngày 22/4/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm 30/9/2024 với lãi suất 10%/năm; các tình tiết trên, Tòa án đã thông báo đến cho Công ty cổ phần X và đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Tấn P hợp lệ nhưng Công ty cổ phần X và đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Tấn P vẫn không có ý kiến phản hồi nên Tòa án căn cứ vào Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định các tình tiết trên là sự thật.
Xét, nguyên đơn Công ty cổ phần T1 yêu cầu Công ty cổ phần X trả số tiền nợ mua hàng hòa là 142.624.374 đồng và tiền lãi tính từ ngày 22/4/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 30/9/2024 với lãi suất 10%/năm là 02 năm 05 tháng 08 ngày là (142.624.374 đồng x 10% x 2) + (142.624.374 đồng x 10% x 5/12) + (142.624.374 đồng x 10% x 1/12 x 8/30) = 34.784.500 đồng có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[4] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- Công ty cổ phần X phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là: 177.408.874 đồng x 5% = 8.870.444 đồng ( Tám triệu bốn trăm lẻ tám ngàn tám trăm bảy mươi bốn đồng)
- - Hoàn trả lại cho Công ty cổ phần T1.
- Bởi các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 357; Điều 430; Điều 433; Điều 434; Điều 440 Bộ Luật dân sự năm 2015;
- - Điều 50; Điều 306 Luật Thương mại năm 2005;
- - Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Buộc Công ty cổ phần X trả cho Công ty cổ phần T1 số tiền mua hàng hóa là 142.624.374 đồng (Một trăm bốn mươi hai triệu sáu trăm hai mươi bốn ngàn ba trăm bảy mươi bốn đồng) và tiền lãi là 34.784.500 đồng (Ba mươi bốn triệu bảy trăm tám mươi bốn ngàn năm trăm đồng). Tổng cộng là 177.408.874 đồng đồng (Một trăm bảy mươi bảy triệu bốn trăm lẻ tám ngàn tám trăm bảy mươi bốn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng Công ty cổ phần X còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
2. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- - Công ty cổ phần X phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 8.870.444 đồng (Tám triệu bốn trăm lẻ tám ngàn tám trăm bảy mươi bốn đồng).
- - Hoàn trả lại cho Công ty cổ phần T1 tiền tạm ứng án phí là 4.077.763 đồng (Bốn triệu không trăm bảy mươi bảy ngàn bảy trăm sáu mươi ba đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0025608 ngày 14/3/2024 của Chi cục Thi hành án thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tống đạt được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chung Cảnh Long |
Bản án số 4942/2024/KDTM-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 4942/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
