Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 4941/2024/DS-ST

Ngày: 30/9/2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Cảnh Long

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Mai Thanh Giàu
  2. Bà Đặng Thị Thu Oanh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Võ Hồng Duyên – Kiểm sát viên.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 594/2020/TLST-DS ngày 13 tháng 11 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5401/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 6658/2024/QĐST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 7665/2024/QĐST-DS ngày 09/9/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

  • - Ông Nguyễn Văn H (có mặt)
  • - Hồ Thị Ngọc T (có mặt)

Cùng địa chỉ: 3 đường H, tổ C, khu phố C, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn Q (vắng mặt)

Địa chỉ: D H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Hồ Thị Ngọc T trình bày:

Ngày 08/7/2015, bà Hồ Thị Ngọc T và chồng là ông Nguyễn Văn H có ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Nguyễn Tấn Q nhà đất tại Đ đường H, tổ C, khu phố C, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quyền sử dụng đất ở số: 733/2004 do Ủy ban nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/3/2004 với giá là 1.700.000.000 đồng; thanh toán làm 02 đợt:

  • - Đợt 1: Thanh toán 800.000.000 đồng khi hợp đồng được công chứng; bà T và ông H đã nhận khoản tiền đợt 1
  • - Đợt 2: Thanh toán số tiền còn lại 900.000.000 đồng trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày thanh toán đợt 1. Để ghi nhận việc này, hai bên thống nhất lập hợp đồng vay tiền nhưng thực chất không có vay tiền. Ngoài ra hai bên còn thỏa thuận tiền phạt nếu vi phạm sẽ chịu tiền phạt 10% giá trị hợp đồng.

Bà T và ông H đã hỗ trợ ông Q hoàn thành thủ tục sang tên cho ông Q. Tuy nhiên, ông Q không thanh toán tiền đợt 2 là 900.000.000 đồng cho bà T và ông H. Bà T và ông H đã nhiều lần yêu cầu ông Q trả số tiền còn lại nhưng ông Q không trả và cố tránh trốn tránh việc trả tiền còn lại.

Nay bà T và ông H yêu cầu cá nhân ông Nguyễn Tấn Q trả số tiền còn lại là 900.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 08/10/2015 đến ngày 31/12/2016 (01 năm 02 tháng 23 ngày) với lãi suất 09%/năm là 99.675.000 đồng và tiền lãi từ ngày 01/01/2017 đến ngày 30/9/2024 (07 năm 08 tháng 29 ngày) với lãi suất 10%/năm là 697.250.000 đồng. Tổng cộng là 1.696.925.000 đồng; bao gồm tiền gốc là 900.000.000 đồng và tiền lãi là 796.925.000 đồng. Bà T rút yêu cầu khởi kiện ông Q bồi thường 10% giá trị hợp đồng là 170.000.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập bị đơn ông Nguyễn Tấn Q hợp lệ nhưng ông Q vẫn vắng mặt không có lý do, nguyên đơn có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được và vụ án được đưa ra xét xử công khai.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật.

- Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.

- Về giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị Ngọc T, ông Nguyễn Văn H, Hội đồng xét xử nhận thấy đây là vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và đối tượng tranh chấp là bất động sản tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tiến hành thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ đối với bị đơn ông Nguyễn Tấn Q nhưng ông Q vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Xét yêu cầu của đương sự:

Ngày 08/7/2015, bà Hồ Thị Ngọc T và chồng là ông Nguyễn Văn H có ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Nguyễn Tấn Q nhà đất tại Đ đường H, tổ C, khu phố C, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quyền sử dụng đất ở số: 733/2004 do Ủy ban nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/3/2004 với giá là 1.700.000.000 đồng; thanh toán làm 02 đợt:

  • - Đợt 1: Thanh toán 800.000.000 đồng khi hợp đồng được công chứng; bà T và ông H đã nhận khoản tiền đợt 1
  • - Đợt 2: Thanh toán số tiền còn lại 900.000.000 đồng trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày thanh toán đợt 1. Để ghi nhận việc này, hai bên thống nhất lập hợp đồng vay tiền nhưng thực chất không có vay tiền. Ngoài ra hai bên còn thỏa thuận tiền phạt nếu vi phạm sẽ chịu tiền phạt 10% giá trị hợp đồng.

Bà T và ông H đã hỗ trợ ông Q hoàn thành thủ tục sang tên cho ông Q. Tuy nhiên, ông Q không thanh toán tiền đợt 2 là 900.000.000 đồng cho bà T và ông H. Bà T và ông H đã nhiều lần yêu cầu ông Q trả số tiền còn lại nhưng ông Q không trả và cố tránh trốn tránh việc trả tiền còn lại.

Nay bà T và ông H yêu cầu cá nhân ông Nguyễn Tấn Q trả số tiền còn lại là 900.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 08/10/2015 đến ngày 31/12/2016 (01 năm 02 tháng 23 ngày) với lãi suất 09%/năm là 99.675.000 đồng và tiền lãi từ ngày 01/01/2017 đến ngày 30/9/2024 (07 năm 08 tháng 29 ngày) với lãi suất 10%/năm là 697.250.000 đồng. Tổng cộng là 1.696.925.000 đồng; bao gồm tiền gốc là 900.000.000 đồng và tiền lãi là 796.925.000 đồng. Bà T rút yêu cầu khởi kiện yêu cầu ông Q bồi thường 10% giá trị hợp đồng là 170.000.000 đồng; các tình tiết trên, Tòa án đã thông báo đến cho ông Q nhưng ông Q vẫn không có ý kiến phản hồi nên Tòa án căn cứ vào Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định các tình tiết trên là sự thật.

Xét, Hợp đồng vay tiền ngày 08/7/2015 ký giữa ông Nguyễn Văn H, bà Hồ Thị Mộng Ngọc T với ông Nguyễn Tấn Q là hợp thức hóa việc ông Q còn nợ tiền thanh toán việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không có thật việc ông Q vay tiền bà T, ông Q nên Hợp đồng vay tiền này không có giá trị.

Xét, nguyên đơn bà Hồ Thị T, ông Nguyễn Văn H yêu cầu ông Nguyễn Tấn Q trả số tiền còn lại là 900.000.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét, nguyên đơn bà Hồ Thị T, ông Nguyễn Văn H rút yêu cầu khởi kiện yêu cầu ông Q bồi thường 10% giá trị hợp là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét, nguyên đơn bà Hồ Thị T, ông Nguyễn Văn H yêu cầu ông Nguyễn Tấn Q trả tiền lãi từ ngày 08/10/2015 đến ngày 31/12/2016 (01 năm 02 tháng 23 ngày) với lãi suất 09%/năm là 99.675.000 đồng và tiền lãi từ ngày 01/01/2017 đến ngày 30/9/2024 (07 năm 08 tháng 29 ngày) với lãi suất 10%/năm là 697.250.000 đồng. Ông H, bà T và ông Q thỏa thuận thời hạn thanh toán tiền đợt 2 là 03 tháng kể từ ngày ký hợp đồng ngày 08/7/2015, do đó ông H, bà T yêu cầu ông Q trả tiền chậm trả từ ngày 08/10/2015 là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5] Án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Ông Nguyễn Tấn Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 36.000.000 đồng + (1.696.925.000 đồng đồng – 800.000.000 đồng) x 3% = 62.907.750 đồng (Sáu mươi hai triệu chín trăm lẻ bảy ngàn bảy trăm năm mươi đồng).
  • - Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho bà Nguyễn Văn H, bà Hồ Thị Ngọc T.

Bởi các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 228; Điều 271 và Điều 273; Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 166; Điều 419; Điều 500; Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015;
  • - Luật đất đai năm 2013;
  • - Luật nhà ở;
  • - Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn

  • - Buộc ông Nguyễn Tấn Q trả ông ông Nguyễn Văn H, bà Hồ Thị Ngọc T số tiền là 1.696.925.000 đồng (Một tỷ sáu trăm chín mươi sáu triệu chín trăm hai mươi lăm ngàn đồng); bao gồm tiền gốc là 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng) và tiền lãi là 796.925.000 đồng (Bảy trăm chín mươi sáu triệu chín trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Hồ Thị Ngọc T, ông Nguyễn Văn H cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng ông Nguyễn Tấn Q còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  • - Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Ngọc T, ông Nguyễn Văn H yêu cầu ông Nguyễn Tấn Q bồi thường 10% giá trị hợp đồng là 170.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi triệu đồng).
  • - Bà Hồ Thị Ngọc T, ông Nguyễn Văn H bàn giao căn nhà đất tại Đ đường H, tổ C, khu phố C, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quyền sử dụng đất ở số: 733/2004 do Ủy ban nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/3/2004 cho ông Nguyễn Tấn Q.

Thi hành án tại Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Ông Nguyễn Tấn Q phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 62.907.750 đồng (Sáu mươi hai triệu chín trăm lẻ bảy ngàn bảy trăm năm mươi đồng).
  • - Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn H, bà Hồ Thị Ngọc T tiền tạm ứng án phí là 27.298.125 đồng (Hai mươi bảy triệu hai trăm chín mươi tám ngàn một trăm hai mươi lăm đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2017/0026485 ngày 20 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tống đạt được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM
  • - VKSND Tp. Thủ Đức;
  • - VKSND TPHCM;
  • - Chi cục THADS Tp. Thủ Đức;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Chung Cảnh L

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4941/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 4941/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger