|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số 494/2024/DS-PT Ngày: 08 - 7 - 2024 V/v Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Minh Thịnh
Bà Lê Thúy Cầu
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Danh Quốc Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Bá Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 884/2023/TLPT-DS ngày 22 tháng 12 năm 2023 “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2023/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3612/2024/QĐPT-DS ngày 14 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Đinh Thị V, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Số A, đường N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đinh Xuân P, sinh năm 1963. Nơi cư trú: Số C, đường số F, Khu dân cư H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (có mặt).
-
Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ (nay là Công ty Cổ phần Đ). Địa chỉ: Khu đô thị M, đường N, Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Thanh L, Chức vụ: Tổng Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lâm Minh T, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Ấp P, xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
-
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Công ty Cổ phần X. Địa chỉ: Số A, đường N, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Chí L1, Chức vụ: Giám đốc.
- Ủy ban nhân dân tỉnh B. Địa chỉ: Đường N, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn T1 – Chủ tịch.
- Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Địa chỉ: Số A, đường T, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Kim T2 – Chức vụ: Chủ tịch;
- Bà Đặng Hồng T3, sinh năm 1963. Địa chỉ: Số A, đường T, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Ông Đinh Xuân P, sinh năm 1963. Địa chỉ: Số C, đường số F, Khu dân cư H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (có mặt).
- Ông Đinh Xuân T4, sinh năm 1974. Địa chỉ: Số C, đường số F, Khu dân cư H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (mất năng lực hành vi dân sự).
Người giám hộ của ông T4: Ông Đinh Xuân P, sinh năm 1963. Địa chỉ: Số C, đường số F, Khu dân cư H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (có mặt).
- Bà Đinh Thị H, sinh năm 1971. Địa chỉ: Số A, đường N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông Đinh Xuân P, sinh năm 1963. Địa chỉ: Số C, đường số F, Khu dân cư H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (có mặt).
- Công ty Cổ phần X. Địa chỉ: Số A, đường N, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Đinh Thị V.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của bà V, Công ty Đ có mặt; còn lại vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và theo người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Vào năm 2002, bà Đinh Thị V có nhận chuyển nhượng của bà Đặng Hồng T3 phần đất có diện tích 3.609 m2 thuộc thửa đất số 13, tờ bản đồ số 05, đất tọa lạc tại Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu do bà T3 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00078/QSDĐ/01/QĐ-UB/06-01-99, đến ngày 06/11/2002 Phòng địa chính thị xã B (nay là Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố B) xác nhận chuyển nhượng trong giấy chứng nhận nêu trên cho bà vân theo đúng quy định của pháp luật. Ngày 15/9/2003, bà V đã chuyển nhượng một phần diện tích đất nêu trên là 501,5 m2 cho hộ ông Võ Đức H1. Diện tích còn lại 3.107,5 m2. Năm 2004 Ủy ban nhân dân tỉnh B có chủ trương thu hồi đất, trong đó có phần đất của bà V nhận chuyển nhượng của bà T3. Đến ngày 20/4/2011 Công ty Cổ phần Đ (nay là Công ty Cổ phần Đ – gọi tắt là Công ty Đ) đề nghị thỏa thuận với bà V về việc bồi thường đất và hai bên có làm giấy thỏa thuận đền bù giải tỏa đất, đến ngày thực hiện Công ty Đ không giao tiền cho gia đình bà V.
Do đó, bà Đinh Thị V khởi kiện yêu cầu Công ty Đ phải có trách nhiệm trả lại cho bà Đinh Thị V toàn bộ diện tích đất 3.107,5 m2 tại thửa đất số 13, tờ bản đồ 05, đất tọa lạc Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; yêu cầu Công ty Cổ phần Đ bồi thường các khoản hoa lợi trên đất do đất đã bàn giao cho Công ty Đ từ năm 2011 đến nay không trồng lúa và tăng gia sản xuất được với số tiền 132.000.000 đồng.
Còn đối với yêu cầu:
- Công ty Đ trả lại cho bà V phần đất diện tích 53,5m2; khoản chi phí bỏ ra để xây dựng 05 căn nhà tạm và 18 cột bằng bê tông cốt thép với tổng số tiền là 200.000.000 đồng thì nguyên đơn xin rút lại yêu cầu này.
- Công ty Cổ phần X (gọi tắt là Công ty X) phải có trách nhiệm bồi thường cho bà toàn bộ diện tích đất 3.107,5 m2 tại thửa đất số 13, tờ bản đồ 05, đất tọa lạc Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu với số tiền 1.100.000.000 đồng, nguyên đơn xin rút lại yêu cầu này.
Bị đơn Công ty Cổ phần Đ (nay là Công ty Cổ phần Đ – gọi tắt là Công ty Đ) trình bày: Việc nguyên đơn khởi kiện đòi đất đối với Công ty Đ là không đúng, lý do: Dự án khu đô thị M do Công ty Đ làm chủ đầu tư, trong hồ sơ bồi thường tại dự án không có hồ sơ bồi thường của hộ bà Đinh Thị V cũng như các quyết định thu hồi đất. Phần diện tích đất bà Đinh Thị V khởi kiện yêu cầu Công ty Đ trả, phần đất này Công ty Đ đã được Ủy ban nhân dân tỉnh B ra quyết định giao đất số 2014/QĐ-UBND ngày 08/9/2009 và Quyết định số 3252/QĐ-UBND ngày 03/12/2010, đồng thời các nghĩa vụ tài chính đối với phần diện tích đất mà Nhà nước giao cho Công ty Đ cũng đã được Công ty Đ thực hiện hoàn thành nghĩa vụ. Do vậy, việc chưa bồi thường cho bà Đinh Thị V không liên quan đến Công ty Đ.
Quyết định số 2014/QĐ-UBND ngày 08/9/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc thu hồi 236.980,22m2 do Trung tâm phát triển quỹ đất quản lý và giao 408.408,06m2 trong tổng số 772.333,30m2 đất UBND tỉnh giao Trung tâm phát triển quỹ đất theo Quyết định số 114/QĐ-UBND ngày 15/102005 cho Công ty Đ lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để đầu tư xây dựng khu dân cư tại Phường A, Phường G, thị xã B. Theo quyết định số 2014, trong phần diện tích nhà nước giao cho Công ty Đ do Trung tâm phát triển quỹ đất quản lý là 236.980,22m2 bao gồm phần đất bà V khởi kiện, phần đất bà V khởi kiện đã được Công ty Cổ phần X bồi thường cho hộ bà Đặng Hồng T3.
Ngày 03/12/2010 Ủy ban nhân dân tỉnh B có quyết định số 3252 về việc thu hồi 5.448,9m2 đất do Chùa P1 quản lý và 215,5m2 do Ủy ban nhân dân Phường A quản lý và giao 664.108,31m2 đất cho Công ty Đ tại Phường A. Theo quyết định trên thì hình thức giao đất là Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với diện tích 328.523,67m2 (bao gồm phần đất bà V khởi kiện). Công ty Đ đã hoàn thành việc nộp ngân sách nhà nước đối với tiền sử dụng phần đất nhà nước giao nêu trên.
Đối với yêu cầu Công ty Đ đền bù các khoản hoa lợi trên đất: Như đã trình bày phần trên, Công ty Đ cũng không đồng ý bồi thường. Mặt khác, đối với phần đất liên quan đến khởi kiện của bà V, Công ty Đ cũng chưa triển khai thi công được do gia đình bà V cản trở, làm chậm tiến độ thực hiện dự án của Công ty.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :
- - Ủy ban nhân dân tỉnh B trình bày theo văn bản số 759/UBND-NC ngày 10/3/2023: Hộ bà Đặng Hồng T3 được Ủy ban nhân dân thị xã B (nay là thành phố B) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào số 00078 ngày 25/02/1999 tại thửa đất số 13, tờ bản đồ số 05, diện tích 3.609m2, mục đích sử dụng là đất trồng lúa.
- Năm 2002, hộ bà Đặng Hồng T3 chuyển nhượng toàn bộ thửa đất trên cho bà Đinh Thị V theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 2801/CN được Ủy ban nhân dân thị xã B (nay là thành phố B) xác nhận ngày 20/9/2002 và Phòng địa chính thị xã B (nay là Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố B) xác nhận đăng ký biến động ngày 06/11/2002; năm 2003, bà Đinh Thị V chuyển nhượng 501,5m2 cho hộ ông Võ Đức H1, diện tích còn lại 3.107,5m2.
- Ngày 14/5/2004, Ủy ban nhân dân tỉnh có Quyết định số 176/QĐ-CT về việc thu hồi 1.291.712,00m2 đất do các hộ dân, một phần đất giao thông, thủy lợi do Ủy ban nhân dân Phường A, Phường G quản lý, một phần đất bãi rác do Công ty X quản lý và một phần đất của Chùa S Đường để giao Công ty Địa Ốc lập phương án bồi thường giải tỏa mặt bằng đầu tư xây dựng Khu đô thị mới phía Nam đường vành đai ngoài thị xã B tại Khóm A, Khóm A, của Phường A và Khóm A, Khóm 2, của Phường G, thị xã B; theo danh sách tổng hợp chủ sử dụng đất do Trung Tâm K lập được Ủy ban nhân dân Phường A và Phường G xác nhận thì có hộ bà Đặng Hồng T3 sử dụng thửa đất số 13, tờ bản đồ số 4(5), diện tích 3.637,8m2.
- Năm 2004, Công ty X đã bồi thường cho hộ bà Đặng Hồng T3 thửa đất số 13, tờ bản đồ 04, diện tích 3.637,8m2 với số tiền là 114.570.852 đồng theo Phiếu chi ngày 13/8/2004 và bản bồi thường chi tiết số 260 ngày 13/8/2004 (có xác nhận của Ủy ban nhân dân Phường A), (theo báo cáo của Trung tâm Phát triển Quỹ nhà và đất, phần đất này trong diện tích đất 336.095,19m2 mà Công ty X đã bồi thường và bàn giao cho Trung tâm phát triển quỹ đất thuộc Sở T5 (nay là Trung tâm Phát triển quỹ nhà và đất tỉnh)).
- Ngày 08/9/2009, Ủy ban nhân dân tỉnh có Quyết định số 2014/QĐ-UBND về việc thu hồi 236.98,22m2 đất do Trung tâm phát triển quỹ đất quản lý và giao 408.408,6m2 trong tổng số 772.333,3m2 đất Ủy ban nhân dân tỉnh G cho Trung tâm phát triển quỹ đất theo Quyết định số 114/QĐ-UBND ngày 15/5/2005 cho Công ty cổ phần Đ lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để đầu tư xây dựng khu dân cư tại Phường A, Phường G, thị xã B.
- Từ những nội dung trên, năm 2002, hộ bà Đặng Hồng T3 đã chuyển nhượng thửa đất số 13, tờ bản đồ số 05 cho bà Đinh Thị V được Phòng địa chính thị xã B (nay là Phòng Tài nguyên và Môi trưởng thành phố B) xác nhận đăng ký biến động ngày 06/11/2002 nhưng năm 2004, khi đo đạc thực hiện dự án thì Ủy ban nhân Phường A và Phường G xác nhận đất số 13, tờ bản đồ số 4(5), diện tích 3.637, 8m2 do bà T3 quản lý sử dụng; đồng thời, bà T3 cũng đã nhận tiền bồi thường theo phương án đã được phê duyệt (Công ty X đã chi trả tiền bồi thường cho hộ bà Đặng Hồng T3 theo phương án chi tiết ngày 13/8/2004 và bà T3 đã ký nhận tiền bồi thường theo Phiếu chi ngày 13/8/2004 và Biên bản chi trả tiền ngày 13/8/2004 được lập giữa Công ty X và hộ bà Đặng Hồng T3).
- Ngày 19/9/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh có Công văn số 3538/UBND-KT, trong đó, có nội dung: “c) Đối với hộ bà Đinh Thị V (ủy quyền cho ông Đinh Xuân P): Phần diện tích đất của bà Đinh Thị V nằm trong phần diện tích mà Công ty Cổ phần X thực hiện bồi thường và bàn giao cho Trung tâm Phát triển Quỹ đất thuộc Sở T5; do đó, Công ty Cổ phần X khẩn trương xử lý dứt điểm trường hợp hộ bà Đinh Thị V (ủy quyền cho ông Đinh Xuân P) để bàn giao mặt bằng cho Công ty Cổ phần Đ thực hiện dự án theo đúng quy định của pháp luật”.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2023/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, quyết định:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị V đối với Công ty Cổ phần Đ về việc yêu cầu Công ty Cổ phần Đ trả lại quyền sử dụng đất diện tích 3.107,5m2 và bồi thường các khoản hoa lợi trên đất với số tiền 132.000.000 đồng.
- Buộc Công ty Cổ phần X trả lại giá trị quyền sử dụng đất đã thu hồi cho bà Đinh Thị V đối với diện tích 3.107,5m2, một phần thửa đất số 13, tờ bản đồ số 5 với số tiền là 757.050.000 đồng.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/02/1999 Ủy ban nhân dân thị xã B (nay thành phố B) cấp cho hộ bà Đặng Hồng T3. Ngày 20/9/2002 bà T3 đã chuyển nhượng cho bà V, bà V đã đăng ký biến động đất đai ngày 06/11/2002.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị V đối với Công ty Cổ phần Đ về việc yêu cầu trả lại cho bà Đinh Thị V quyền sử dụng đất diện tích 53,5m2 và khoản chi phí bỏ ra để xây dựng 05 căn nhà tạm và 18 cột bằng bê tông cốt thép với tổng số tiền là 200.000.000 đồng; yêu cầu Công ty Cổ phần X bồi thường cho bà V toàn bộ diện tích đất 3.107,5 m2 tại thửa đất số 13, tờ bản đồ 05, đất tọa lạc Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu với số tiền 1.100.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, việc thi hành án, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 03/10/2023, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Đinh Thị V kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa cấp phúc thẩm giải quyết:
- - Yêu cầu Công ty Cổ phần Đ trả lại quyền sử dụng đất diện tích 3.107,5m2 tại thửa đất số 13, tờ bản đồ 05, đất tọa lạc Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu cho bà Đinh Thị V (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp ngày 25/02/1999).
- - Nếu buộc phải giải tỏa thì phải áp dụng đơn giá bồi thường theo thỏa thuận, hỗ trợ đời sống việc làm cho hộ gia định bà V theo quy định pháp luật.
- - Ngày 22/5/2024, người kháng cáo có yêu cầu bổ sung: Đề nghị chấp thuận cho Công ty cổ phần T6 - Chi nhánh tại Tp . định giá lại diện tích đang tranh chấp, để buộc Công ty Cổ phần Đ bồi thường theo giá thị trường theo Giấy thỏa thuận đền bù đã ký ngày 20/4/2011.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Đại diện hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Tp . phát biểu quan điểm: Về tố tụng hội đồng xét xử vắng mặt đối với các đương sự đã triệu tập hợp lệ; Về nội dung đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Những người kháng cáo, tham gia tố tụng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng phúc thẩm tiến hành xét xử theo quy định chung.
[1.2]. Xác định quan hệ tranh chấp chưa chính xác:
Theo đơn khởi kiện nguyên đơn và lời trình bày đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Đinh Thị V trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa phúc thẩm thể hiện: Chỉ yêu cầu Công ty Đ trả lại quyền sử dụng đất diện tích 3.107,5 m2 tại thửa đất số 13, tờ bản đồ 05, đất tọa lạc Khóm A, Phường A, thành phố B hoặc bồi thường theo thỏa thuận tại “Giấy thỏa thuận đền bù giải tỏa đất” ngày 20/4/2011 mà 02 bên đã xác lập. Án sơ thẩm nhận định: “Bà Đinh Thị V yêu cầu Công ty Đ trả lại quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại, nên cần xác định đây là quan hệ tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định tại khoản 6, 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự” là chưa chính xác. Vì việc bồi thường giá trị đất được các bên thỏa thuận tại “Giấy thỏa thuận đền bù giải tỏa đất” ngày 20/4/2011; nên việc xác định bồi thường thiệt hại “ngoài hợp đồng” là không đúng.
[1.3]. Buộc đối tượng thực hiện nghĩa vụ không đúng.
- Như đã nhận định ở mục [1.2], nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn Công ty Đ trả lại quyền sử dụng đất hoặc bồi thường giá trị quyền sử dụng đất; nhưng án sơ thẩm tuyên buộc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần X (gọi tắt là Công ty X) “trả lại giá trị quyền sử dụng cho bà Đinh Thị V đối với diện tích 3.107,5m2, số tiền là 757.050.000 đồng” là không đúng đối tượng, yêu cầu của nguyên đơn, trái với nguyên tắc tự định đoạt của đương sự được quy định tại Điều 5, Điều 68 của BLTTDS năm 2015.
- Phần nội dung Bản án sơ thẩm thể hiện: nguyên đơn có yêu cầu “Công ty Cổ phần X (gọi tắt là Công ty X) phải có trách nhiệm bồi thường cho bà toàn bộ diện tích đất 3.107,5 m2 tại thửa đất số 13, tờ bản đồ 05, đất tọa lạc Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu với số tiền 1.100.000.000 đồng” (Tr3 BAST), nhưng nguyên đơn đã rút lại yêu cầu này và Quyết định bản án sơ thẩm tuyên: 4. “Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị V đối với Công ty Cổ phần Đ về việc... yêu cầu Công ty Cổ phần X bồi thường cho bà V toàn bộ diện tích đất 3.107,5 m2 tại thửa đất số 13, tờ bản đồ 05, đất tọa lạc Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu với số tiền 1.100.000.000 đồng”.
Tuy nhiên, Quyết định bản án sơ thẩm lại tiếp tục tuyên: 2. “Buộc Công ty Cổ phần X trả lại giá trị quyền sử dụng đất đã thu hồi cho bà Đinh Thị V đối với diện tích 3.107,5m2, một phần thửa đất số 13, tờ bản đồ số 5 với số tiền là 757.050.000 đồng”
Như vậy, với một yêu cầu nhưng án sơ thẩm vừa đình chỉ yêu cầu khởi kiện (do nguyên đơn rút yêu cầu) nhưng lại vừa buộc bồi thường là có sự mâu thuẫn, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
[2]. Xét nội dung yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, thấy rằng:
[2.1]. Hồ sơ thể hiện về quá trình quản lý, sử dụng đất:
- - Năm 2002, nguyên đơn bà Đinh Thị V có nhận chuyển nhượng của bà Đặng Hồng T3 phần diện tích đất đang tranh chấp; Ngày 06/11/2002 Phòng địa chính thị xã B (nay là Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố B) xác nhận chuyển nhượng trong giấy chứng nhận nêu trên cho bà V.
- - Ngày 14/5/2004, Ủy ban nhân dân tỉnh có Quyết định số 176/QĐ-CT về việc thu hồi 1.291.712,00m2 đất do các hộ dân, một phần đất giao thông, thủy lợi do Ủy ban nhân dân Phường A, Phường G quản lý, một phần đất bãi rác do Công ty X quản lý và một phần đất của Chùa S Đường để giao Công ty Địa Ốc lập phương án bồi thường giải tỏa mặt bằng đầu tư xây dựng Khu đô thị mới phía Nam đường vành đai ngoài thị xã B tại Khóm A, Khóm A, Phường A và Khóm A, Khóm B, Phường G, thị xã B; Theo danh sách tổng hợp chủ sử dụng đất do Trung Tâm K lập được Ủy ban nhân dân Phường A và Phường G xác nhận thì có hộ bà Đặng Hồng T3 sử dụng thửa đất số 13, tờ bản đồ số 5.
- - Năm 2004, Công ty X đã bồi thường cho hộ bà Đặng Hồng T3 đối với diện tích đất trên số tiền là 114.570.852 đồng theo Phiếu chi ngày 13/8/2004 và bản bồi thường chi tiết số 260 ngày 13/8/2004 (có xác nhận của Ủy ban nhân dân Phường A).
- - Ngày 15/10/2005 Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định số 114/QĐ-UBND thu hồi phần đất 772.333,3m2 từ Công ty X giao cho Trung tâm phát triển quỹ đất Bạc Liêu, trong đó có phần đất của bà V, đã bồi thường cho bà T3.
- - Ngày 08/9/2009, Ủy ban nhân dân tỉnh có Quyết định số 2014/QĐ-UBND về việc thu hồi 236.98,22m2 đất do Trung tâm phát triển quỹ đất quản lý và giao 408.408,6m2 trong tổng số 772.333,3m2 đất Ủy ban nhân dân tỉnh G cho Trung tâm phát triển quỹ đất theo Quyết định số 114/QĐ-UBND ngày 15/5/2005 cho Công ty Đ lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để đầu tư xây dựng khu dân cư tại Phường A, Phường G, thị xã B.
Như vậy, đối với phần đất của bà V nhận chuyển nhượng từ bà T3, Ủy ban nhân dân tỉnh B đã thu hồi và giao cho Công ty Đ để đầu tư xây dựng khu dân cư. Công ty Đ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Hơn nữa, bà V cũng đã tự nguyện giao đất cho Công ty Đ, Công ty đã đầu tư cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh.
Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu Công ty Đ thực hiện nội dung các bên đã thỏa thuận tại “Giấy thỏa thuận đền bù giải tỏa đất” ngày 20/4/2011; Phía đại diện cho Công ty Đ cũng thừa nhận có ký giấy thỏa thuận trên với bà V.
[2.2]. Xét nội dung “Giấy thỏa thuận đền bù giải tỏa đất” ngày 20/4/2011, thấy rằng:
Nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận:
- “Nay Công ty cam kết sẽ chi trả 100% số tiền bồi hoàn + các quyền lợi đi kèm theo quy định Nhà nước cho hộ bà Đinh Thị V trước ngày 30/6/2011 ...”
- “ Công ty Đ cam kết nếu sau ngày 30/6/2011, bất kể vì lý do gì mà Công ty chưa trả tiền bồi hoàn cho bà V thì hộ bà V hoàn toàn có quyền lấy lại phần đất đã giao cho Công ty. Công ty không có quyền đòi bà V bồi thường”.
Lẽ ra, án sơ thẩm phải xem xét, đánh giá nội dung các bên đã thỏa thuận, nhằm làm cơ sở để giải quyết vụ án mới đúng. Nhưng án sơ thẩm không xem xét, đánh giá nội dung này, là bỏ sót yêu cầu khởi kiện. Án sơ thẩm nhận định: “Đối với phần đất tranh chấp hiện nay có căn cứ xác định là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà V, Ủy ban nhân dân tỉnh B đã thu hồi và giao cho Công ty Đ, bà V chưa được bồi thường, bà V bị thiệt hại là có xảy ra trên thực tế” là đúng, nhưng lại buộc Công ty X có nghĩa vụ trả tiền là không phù hợp với nhận định tại mục [1.3] và không phù hợp với thỏa thuận của các bên.
[2.3]. Về kháng cáo định giá để xác định giá trị quyền sử dụng đất nhằm làm căn cứ bồi thường, thấy rằng:
Tại phiên tòa sơ thẩm, do nguyên đơn không yêu cầu định giá đối với quyền sử dụng đất nên Tòa án sơ thẩm không tiến hành định giá. Do đó, trong quá trình giải quyết lại vụ án cần định giá lại Quyền sử dụng đất, nhằm làm cơ sở để giải quyết bồi thường cho đúng quy định pháp luật.
[3]. Ngoài ra, quyết định Bản án sơ thẩm còn tuyên: “3. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/02/1999 Ủy ban nhân dân thị xã B (nay thành phố B) cấp cho hộ bà Đặng Hồng T3. Ngày 20/9/2002 bà T3 đã chuyển nhượng cho bà V, bà V đã đăng ký biến động đất đai ngày 06/11/2002” là không đúng quy định tại Điều 34 của BLTTDS năm 2015, vì quyết định cá biệt trên không trái luật. Hơn nửa, Công ty Đ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[4]. Thấy rằng, Tòa sơ thẩm có thiếu sót về tố tụng, chưa xem xét, đánh giá đầy đủ các yêu cầu như đã phân tích trên mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được. Do đó, cần hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ về Tòa sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục chung.
[5]. Do hủy án nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2023/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu về “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại "giữa nguyên đơn bà Đinh Thị V, bị đơn Công ty Cổ phần Đ và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.
- Giao hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm, đúng theo quy định pháp luật.
- Giữ lại phần dự nộp án phí sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chung Văn Kết |
Bản án số 494/2024/DS-PT ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại
- Số bản án: 494/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu về "Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại".
