|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Số: 4937/2024/DS-ST Ngày: 30/9/2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Tiến Dũng
- Ông Dương Hoàng Chinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Võ Cao Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 1343/2023/TLST-DS ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6783/2024/QĐXXST–DS ngày 15 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7738/2024/QÐST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1986 và bà Tạ Thị N, sinh năm: 1986.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm: 1958 và bà Vũ Thị Kim D, sinh năm: 1961.
Địa chỉ: 4 L, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Ngô N1 – Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 3923, quyển số 09/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/9/2023 tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương). (vắng mặt)
Địa chỉ: 1 đường số B, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn ông Chu Văn B có người đại diện theo ủy quyền là ông Ngô N1 trình bày:
Ngày 29/12/2020, vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Tạ Thị N và vợ chồng ông Nguyễn Văn V, bà Vũ Thị Kim D ký Hợp đồng vay có tài sản bảo đảm số 027762, quyển số 278/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1 về việc vợ chồng ông H, bà N cho vợ chồng ông V, bà D vay số tiền 300.000.000 đồng, thời hạn vay: 01 năm từ ngày 29/12/2020 đến ngày 29/12/2021, lãi suất vay: do 02 bên tự thỏa thuận theo quy định của pháp luật. Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho số tiền trên, vợ chồng ông V, bà D đã thế chấp cho vợ chồng ông H, bà N nhà và đất có diện tích 44,5 m² thuộc thửa 343, tờ bản đồ số 01 tọa lạc tại số A đường số B, tổ I, khu phố A, phường L, thành phố T theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 3148/2004 do UBND quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/7/2004 cho ông V và bà D. Sau khi nhận tiền vay, vợ chồng ông V có trả lãi được 03 tháng, với lãi suất 4%/tháng, sau đó ngưng không trả lãi.
Ngoài ra vào ngày 11/01/2021, vợ chồng ông V, bà D vay thêm 10.000.000 đồng, thời hạn vay 01 tháng, lãi suất 4%/tháng, thống nhất cộng vào vào số tiền 300.000.000 đồng vay ngày 29/12/2020, cùng tài sản bảo đảm là nhà đất tại số A đường số B, tổ I, khu phố A, phường L, thành phố T. Do không có thời gian ra phòng công chứng ký hợp đồng, vợ chồng ông V đang cần gấp tiền, bên cạnh đó vợ chồng ông H là chủ tiệm cầm đồ Tuấn H1 nên sử dụng Biên nhận cầm đồ để viết giấy cho vay tiền, người viết giấy tên Huỳnh Thị Thu T là nhân viên của tiệm, do vậy biên nhận có nội dung là lấy thêm tiền đất. Khoản vay thêm này, vợ chồng ông V chưa trả tiền lãi và gốc. Vợ chồng ông H1, bà N xác định đây là khoản vay tiền, không phải quan hệ cầm cố tài sản.
Đã hết thời hạn vay 02 khoản vay trên nhưng vợ chồng ông V, bà D cũng không trả tiền theo đúng cam kết. Vợ chồng ông H1 đã nhiều lần yêu cầu trả tiền nhưng vợ chồng ông V vẫn không thực hiện.
Nay, ông H1 và bà N yêu cầu ông V và bà D phải trả số tiền nợ gốc là 310.000.000 đồng; đồng thời trả tiền lãi trong hạn và tiền lãi quá hạn, cụ thể như sau:
- - Lãi trong hạn trên nợ gốc 300.000.000 đồng:
- - Lãi quá hạn trên nợ gốc 300.000.000 đồng:
- - Lãi suất trong hạn trên nợ gốc 10.000.000 đồng:
- - Lãi suất quá hạn trên nợ gốc 10.000.000 đồng:
Từ ngày 30/3/2020 đến ngày 29/12/2021 là 09 tháng, lãi suất 20%/năm :
300.000.000 đồng x (20%/năm/12 tháng) x 09 tháng = 45.000.000 đồng.
Từ ngày 01/01/2022 đến ngày 30/9/2024, lãi suất bằng 150% lãi suất vay trong hạn 20%/năm:
300.000.000 đồng x (20%/năm/12 tháng) x 150% x 33 tháng = 247.500.000 đồng.
Từ ngày 11/01/2021 đến ngày 11/02/2021 là 01 tháng, lãi suất 20%/năm :
10.000.000 đồng x (20%/năm/12 tháng) x 01 tháng = 166.666 đồng.
Từ ngày 12/02/2022 đến ngày 30/9/2024, lãi suất bằng 150% lãi suất vay trong hạn 20%/năm :
10.000.000 đồng x (20%/năm/12 tháng) x 150% x 31 tháng 18 ngày = 7.899.998 đồng.
Như vậy, tổng số tiền là 610.566.664 đồng.
Về tài sản bảo đảm: do vợ chồng ông H1, bà N không tiến hành đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan đăng ký có thẩm quyền nên không yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm. Khi vợ chồng ông V, bà D trả tiền thì vợ chồng ông H1, bà N sẽ trả lại Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 3148/2004 do UBND quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/7/2004.
2. Bị đơn ông Nguyễn Văn V, bà Vũ Thị Kim D đã vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ đến khi xét xử mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật.
3. Đại diện Viện kiểm sát thành phố T trình bày quan điểm về giải quyết vụ án:
- - Từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, tuy nhiên còn vi phạm về thời hạn xét xử cần rút kinh nghiệm.
- - Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H và bà Tạ Thị N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại Tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H và bà Tạ Thị N khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản, căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì bị đơn ông ông Nguyễn Văn V, bà Vũ Thị Kim D có nơi cư trú tại thành phố T nên đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và triệu tập bị đơn ông Nguyễn Văn V, bà Vũ Thị Kim D đến Tòa để cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử vụ án.
Phiên tòa được mở lần thứ hai nhưng ông V, bà D vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H và bà Tạ Thị N ủy quyền ông Ngô N1 đại diện có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
[2]. Về nội dung:
Căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định:
Ngày 29/12/2020, vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Tạ Thị N cho vợ chồng ông Nguyễn Văn V, bà Vũ Thị Kim D vay số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 4%/tháng, thời hạn vay là 01 năm, theo Hợp đồng vay có tài sản bảo đảm số 027762, quyển số 278/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C2. Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 343, tờ bản đồ số 1, có diện tích 44,5 m² và tài sản gắn liền với đất là nhà ở có diện tích 41 m² tại địa chỉ số A đường số B, tổ I, khu phố A, phường L, thành phố T, thuộc quyền sở hữu, sử dụng của vợ chồng ông V, bà D, theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 3148/2004 do UBND quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/7/2004. Tuy nhiên, ông H và bà N không thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định. Quá trình vay, ông V và bà D đã thực hiện trả lãi được 03 tháng với tổng số tiền là 36.000.000 đồng.
Ngoài ra vào ngày 11/01/2021, vợ chồng ông V, bà D vay thêm 10.000.000 đồng, lãi suất 4%/tháng, thời hạn vay 01 tháng, được viết dưới hình thức biên nhận cầm đồ. Ông H và bà N trình bày do ông V và bà D đang cần gấp tiền, bên cạnh đó vợ chồng ông H là chủ tiệm cầm đồ Tuấn H1 nên sử dụng Biên nhận cầm đồ của tiệm để viết thay cho giấy vay tiền, khoản vay này chung với khoản vay 300.000.000 đồng ngày 29/12/2020, cùng tài sản bảo đảm là 14/1 đường số B, tổ I, khu phố A, phường L, thành phố T. Xét thấy lời trình bày của ông H1 và bà N phù hợp với nội dung biên nhận là “Lấy thêm tiền đất”, ông V và bà D không đến Tòa để trình bày ý kiến nên lời khai của ông H1, bà N là có cơ sở chấp nhận. Đối với khoản vay này, ông V và bà D chưa trả lãi.
Đến nay đã hết thời hạn vay nhưng ông V và bà D vẫn chưa trả số tiền 310.000.000 đồng là đã vi phạm nghĩa vụ.
Về tiền lãi: Hai bên có thỏa thuận về thời hạn trả tiền và trả lãi với mức lãi 4%/tháng, do đó xác định đây là hợp đồng vay có kỳ hạn và có thỏa thuận về lãi được quy định tại Điều 470; khoản 5 Điều 466; Điều 468 Bộ luật Dân sự.
* Mức lãi các bên thỏa thuận 4%/tháng là vượt quá quy định của pháp luật, tuy nhiên đối với khoản vay 10.000.000 đồng, ông V và bà D chưa thực hiện trả lãi trong quá trình vay nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với khoản vay 300.000.000 đồng: ông V và bà D đã thực tế trả lãi 03 tháng như sau: 300.000.000 đồng x 4%/tháng x 03 tháng = 36.000.000 đồng.
Lãi suất theo quy định của pháp luật được tính như sau: 300.000.000 đồng x 20%/12 tháng x 03 tháng = 15.030.000 đồng.
Phần tiền lãi vượt quá quy định của pháp luật: 36.000.000 đồng – 15.030.000 đồng = 20.970.000 đồng, cần cấn trừ vào tiền gốc cho bị đơn. Ông H1 và bà N đồng ý trừ số tiền lãi vượt quá quy định vào nợ gốc.
* Ông H1 và bà N yêu cầu tiền lãi trong hạn và quá hạn như sau:
- - Số tiền vay 300.000.000 đồng:
- + Lãi trong hạn từ ngày 30/3/2020 đến ngày 29/12/2021: 300.000.000 đồng x (20%/12 tháng) x 09 tháng = 45.000.000 đồng.
- + Lãi quá hạn từ ngày 01/01/2022 đến ngày 30/9/2024: 300.000.000 đồng x (20%/12 tháng) x 150% x 33 tháng = 247.500.000 đồng.
- - Số tiền vay 10.000.000 đồng:
- + Lãi trong hạn từ ngày 11/01/2021 đến ngày 11/02/2021: 10.000.000 đồng x (20%/12 tháng) x 01 tháng = 166.666 đồng.
- + Lãi quá hạn từ ngày 12/02/2022 đến ngày 30/9/2024: 10.000.000 đồng x (20%/12 tháng) x 150% x 31 tháng 18 ngày = 7.899.998 đồng.
Tổng số tiền lãi là 300.566.664 đồng.
Xét thấy, nguyên đơn yêu cầu tiền lãi trong hạn, quá hạn với mức lãi suất như trên là phù hợp với thỏa thuận của các bên và phù hợp với quy định của pháp luật quy định tại Điều 466 ; Điều 468 Bộ luật Dân sự nên có cơ sở chấp nhận.
Về tài sản bảo đảm là nhà đất tại số A đường số B, tổ I, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh: Xét thấy ông H1, bà N không tiến hành đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan đăng ký có thẩm quyền nên giao dịch bảo đảm không có hiệu lực theo quy định tại Điều 298 Bộ luật Dân sự. Do đó, ông H1, bà N có trách nhiệm trả lại cho ông V, bà D Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 3148/2004 do UBND quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/7/2004.
Từ những nhận định trên và căn cứ vào lời đề nghị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H1 và bà N; buộc ông V và bà D trả số tiền nợ gốc là 289.030.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 30/9/2024 là 300.566.664 đồng, tổng số tiền là 589.596.664 đồng.
Ông H1 và bà N có trách nhiệm giao trả lại cho ông V và bà D Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 3148/2004 do UBND quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/7/2004.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu trả tiền của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông V và bà D phải chịu án phí trên số tiền 589.596.664 đồng. Ông V sinh năm: 1958, bà D sinh năm: 1961, là người cao tuổi nhưng ông bà không có đơn xin miễn án phí nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Điều 298; Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 470; Điều 357 Bộ luật Dân sự;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H và bà Tạ Thị N.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Nguyễn Văn V và bà Vũ Thị Kim D có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn H và bà Tạ Thị N số tiền vay ngày 29/12/2020 và ngày 11/01/2021 là 289.030.000 (Hai trăm tám mươi chín triệu không trăm ba mươi nghìn) đồng, tiền lãi là 300.566.664 (Ba trăm triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bốn) đồng; tổng cộng số tiền là 589.596.664 (Năm trăm tám mươi chín triệu năm trăm chín mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bốn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành tại thời điểm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Ông Nguyễn Văn H và bà Tạ Thị N có trách nhiệm giao trả lại cho ông Nguyễn Văn V và bà Vũ Thị Kim D Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 3148/2004 do UBND quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/7/2004.
Ông Nguyễn Văn V và bà Vũ Thị Kim D phải chịu là 27.583.867 (Hai mươi bảy triệu năm trăm tám mươi ba nghìn tám trăm sáu mươi bảy) đồng.
H2 lại cho ông Nguyễn Văn H và bà Tạ Thị N số tiền tạm ứng án phí đã nộp đã nộp là 12.808.333 (Mười hai triệu tám trăm lẻ tám nghìn ba trăm ba mươi ba) đồng theo biên lai thu số AA/2023/0004983 ngày 25/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cần thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo:
Ông Nguyễn Văn H, bà Tạ Thị N, ông Nguyễn Văn V, bà Vũ Thị Kim D vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- - VKSND TP. Thủ Đức;
- - THA DS TP. Thủ Đức;
- - TATP;
- - Các đương sự;
- - Lưu.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | |
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Nguyễn Thị Hồng Nga |
Bản án số 4937/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 4937/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
