Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Số: 4936/2024/DS-ST

Ngày: 30/9/2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Huỳnh Tiến Dũng
  2. Ông Dương Hoàng Chinh

Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 269/2024/TLST-DS ngày 30 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6498/2024/QĐXXST–DS ngày 08 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 7511/2024/QĐST–DS ngày 04 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Địa chỉ: B - B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Minh T – Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 1118/2023/UQ-TGĐ ngày 26/4/2023). (vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Phan Ngọc L, sinh năm: 1983.

Địa chỉ: 1 đường số I, khu phố A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Minh T trình bày:

Ngày 29/3/2017, ông Phan Ngọc L ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Căn cứ thu nhập của ông L, ngân hàng cấp thẻ tín dụng số 472074-6497 với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng; mục đích là tiêu dùng cá nhân; lãi suất áp dụng là 2,6%/tháng.

Sau khi được cấp thẻ, ông L đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 624.599.700 đồng và đã thanh toán cho ngân hàng được số tiền 600.499.000 đồng. Sau đó, ông L không tiếp tục thanh toán nợ cho ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần gửi thông báo nhắc nhở nhưng ông L vẫn không có thiện chí trả nợ. Ngày 01/9/2019, ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày 30/9/2024, ông L còn nợ ngân hàng tổng số tiền là 98.867.030 đồng, bao gồm: nợ gốc là 28.958.408 đồng, lãi quá hạn là 69.908.622 đồng.

Nay, ngân hàng yêu cầu ông L có trách nhiệm thanh toán tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 98.867.030 đồng và tiền lãi tiếp tục phát sinh từ ngày 01/10/2024 theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong nợ.

Ngân hàng yêu cầu một mình ông L thanh toán tiền nợ, không yêu cầu trách nhiệm liên đới trả nợ đối với vợ ông L (nếu có).

2. Bị đơn ông Phan Ngọc L: đã vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ đến khi xét xử mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật.

3. Đại diện Viện kiểm sát thành phố T trình bày quan điểm về giải quyết vụ án:

  • Từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
  • Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản, căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì bị đơn ông Phan Ngọc L có nơi cư trú tại thành phố T nên đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tòa án đã tiến hành niêm yết thông báo thụ lý, triệu tập hợp lệ bị đơn ông Phan Ngọc L đến Tòa để cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử vụ án. Phiên tòa được mở lần thứ 02 nhưng ông L vẫn vắng mặt không có lý do. Việc bị đơn vắng mặt không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn ông Phan Ngọc L.

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung:

Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ đơn vào lời khai của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S cấp tín dụng cho ông Phan Ngọc L để sử dụng thẻ tín dụng với hạn mức vay 25.000.000 đồng, mục đích là tiêu dùng cá nhân, lãi suất theo quy định tại Bản các điều khoản và điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông L đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền 624.599.700 đồng, thanh toán được 600.499.000 đồng. Ông L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngân hàng đã chấm dứt sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 30/9/2024, ông L còn nợ sử dụng thẻ tín dụng với nợ gốc là 28.958.408 đồng và nợ lãi quá hạn là 69.908.622 đồng.

Trong hợp đồng tín dụng các bên đã thỏa thuận thời hạn thanh toán nợ gốc và lãi, thỏa thuận về lãi suất theo biểu lãi suất của ngân hàng, bị đơn không thanh toán tiền nợ gốc và lãi theo thời hạn đã thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ. Việc vi phạm của bị đơn trong một thời gian dài đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Xem xét yêu cầu trả tiền nợ gốc, tiền lãi của ngân hàng là phù hợp thỏa thuận được quy định trong hợp đồng và phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 463; Điều 466 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.

Trong khi đó, bị đơn ông Phan Ngọc L vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình Tòa án tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ đến khi xét xử, mặc dù Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho phía bị đơn. Bị đơn không có ý kiến phản hồi về vụ án và tự từ bỏ quyền tranh tụng tại tòa để bảo vệ quyền lợi cho mình.

Từ những nhận định trên và căn cứ vào lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, buộc ông Phan Ngọc L phải thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2024 của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29/3/2017 là 98.867.030 đồng và tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo lãi suất quy định trong hợp đồng tín dụng sau ngày xét xử đến khi thanh toán xong nợ.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được chấp nhận nên bị đơn ông Phan Ngọc L phải chịu án phí trên số tiền 98.867.030 đồng phải trả cho nguyên đơn. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 463; Điều 466; Điều 688 Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

    Buộc ông Phan Ngọc L có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền còn nợ của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29/3/2017, tính đến ngày 30/9/2024 là 98.867.030 (Chín mươi tám triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn không trăm ba mươi) đồng; trong đó: nợ gốc là 28.958.408 (Hai mươi tám triệu chín trăm năm mươi tám nghìn bốn trăm lẻ tám) đồng, nợ lãi quá hạn là 69.908.622 (Sáu mươi chín triệu chín trăm lẻ tám nghìn sáu trăm hai mươi hai) đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Ông Phan Ngọc L phải chịu là 4.943.352 (Bốn triệu chín trăm bốn mươi ba nghìn ba trăm năm mươi hai) đồng.
    2. H lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp đã nộp là 1.975.690 (Một triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn sáu trăm chín mươi) đồng theo biên lai thu số AA/2023/0003619 ngày 31/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cần thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Quyền kháng cáo:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, ông Phan Ngọc L vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - THA DS TP. Thủ Đức;
  • - TATP;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Nga

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4936/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 4936/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khỏi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger