TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Số: 4934/2024/DS-ST
Ngày: 30/9/2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Lượng
- Ông Huỳnh Tiến Dũng
Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 818/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 7375/2024/QĐXXST–DS ngày 23 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7737/2024/QÐST–DS ngày 10 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á.
Địa chỉ: D N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Anh T (Văn bản ủy quyền số 371/UQ-QLN.24 ngày 22/3/2024). (có mặt)
Bị đơn: Ông Lê Hữu H, sinh năm: 1973 và bà Trần Thị Hồng M, sinh năm: 1971.
Địa chỉ: 1 đường số B, khu phố C (khu phố M), phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Lê Hữu T1, sinh năm: 1998. (vắng mặt)
Trẻ Lê Hữu Thắng T2, sinh ngày: 21/9/2008 có người đại hợp pháp là ông Lê Hữu H và bà Trần Thị Hồng M. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: 1 đường số B, khu phố C (khu phố M), phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á có người đại diện theo ủy quyền là bà Trần Anh T trình bày:
Ngày 16/10/2021, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á và ông Lê Hữu H, bà Trần Thị Hồng M ký Hợp đồng cấp tín dụng số TED.CN.3906.151021. Theo nội dung hợp đồng, ngân hàng cho ông H, bà M vay số tiền 600.000.000 đồng nhằm mục đích phục vụ nhu cầu đời sống. Thời hạn vay là 120 tháng kể từ ngày kế tiếp ngày bên được cấp tín dụng nhận tiền vay lần đầu; lãi suất trong hạn: được quy định trong từng khế ước nhận nợ cụ thể; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; lãi suất phạt chậm trả: 10%/năm. Thực hiện hợp đồng, ngân hàng đã giải ngân cho ông H và bà M số tiền 600.000.000 đồng theo Khế ước nhận nợ số [...] ngày 20/10/2021.
Để bảo đảm cho khoản vay trên, ông H và bà M đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông H và bà M tại thửa đất số 11, tờ bản đồ số 69, địa chỉ số A đường số B, khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 200279, số vào sổ cấp GCN: CH00608 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 25/10/2010, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số TED BDCN.360.151021 được công chứng tại Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 16/10/2021, số công chứng 14020. Đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T ngày 03/11/2021.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông H và bà M đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó theo quy định trong hợp đồng, ngày 30/10/2023, ngân hàng đã ra thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ khoản vay và ngày 14/11/2023, ngân hàng chuyển toàn bộ dư nợ vay sang nợ quá hạn.
Nay tại phiên tòa, ngân hàng yêu cầu ông H và bà M thanh toán số tiền nợ tính đến ngày 30/9/2024 là 675.437.141 đồng, bao gồm: nợ gốc là 555.417.148 đồng, lãi trong hạn là 22.688.230 đồng, lãi quá hạn là 92.476.884 đồng, phạt chậm trả lãi là 4.854.879 đồng; và các khoản tiền lãi tiếp tục phát sinh từ ngày 01/10/2024 theo mức lãi suất được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi trả xong nợ.
Nếu ông H và bà M không thực hiện nghĩa vụ thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản là nhà đất tại địa chỉ số A đường số B, khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi nợ.
Tại bản tự khai, bị đơn bà Trần Thị Hồng M trình bày:
Bà xác nhận ngày 16/10/2021, bà và ông Lê Hữu H có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á để vay số tiền 600.000.000 đồng. Tài sản thế chấp là nhà đất tại địa chỉ nhà đất tại địa chỉ số A đường số B, khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hiện trong nhà có bà, ông H cùng 02 con là Lê Hữu T1 và Lê Hữu Thắng T2 đang sinh sống. Nay, bà đồng ý cùng với ông H trả tiền nợ cho ngân hàng, nếu không trả được nợ thì đề nghị giải quyết theo quy định.
Đại diện Viện kiểm sát thành phố T trình bày quan điểm về giải quyết vụ án:
Từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản, căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì bị đơn ông Lê Hữu H và bà Trần Thị Hồng M có nơi cư trú tại thành phố T nên đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và triệu tập bị đơn ông Lê Hữu H, bà Trần Thị Hồng M; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hữu T1, trẻ Lê Hữu Thắng T2 (có người đại diện hợp pháp là ông H và bà M), đến Tòa để cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử vụ án tuy nhiên chỉ có bà M đến cung cấp lời khai. Phiên tòa được mở lần thứ hai nhưng ông H, ông T1 vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông H và ông T1.
Bị đơn bà Trần Thị Hồng M, cũng là người đại diện hợp pháp của trẻ Lê Hữu T1 T2 có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào lời khai của đương sự cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:
Ngày 16/10/2021, ông Lê Hữu H và bà Trần Thị Hồng M vay Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á số tiền 600.000.000 đồng theo Hợp đồng cấp tín dụng số TED.CN.3906.151021, mục đích để phục vụ nhu cầu đời sống, lãi suất theo quy định trong hợp đồng và khế ước nhận nợ. Tài sản đảm bảo cho 02 khoản vay trên là nhà đất tại số A đường số B, khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngân hàng đã giải ngân đủ cho ông H và bà M số tiền 600.000.000 đồng, quá trình thực hiện hợp đồng, ông H và bà M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn và yêu cầu thu hồi nợ. Tính đến ngày 30/9/2024, ông H và bà M còn nợ ngân hàng số tiền là 675.437.141 đồng; trong đó, nợ gốc là 555.417.148 đồng, nợ lãi trong hạn là 22.688.230 đồng, nợ lãi quá hạn là 92.476.884 đồng, phạt chậm trả lãi là 4.854.879. Xem xét yêu cầu trả tiền nợ gốc, tiền lãi và phạt chậm trả lãi của ngân hàng là phù hợp thỏa thuận được quy định trong hợp đồng và phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 463; Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Căn cứ vào Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số TED BDCN.360.151021 ngày 16/10/2021; Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 18/10/2021; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 200279, số vào sổ cấp GCN: CH00608 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 25/10/2010 cho ông Lê Hữu H và bà Trần Thị Hồng M. Có đủ cơ sở xác định ông H và bà M đã dùng tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 11, tờ bản đồ số 69, diện tích 81 m² và tài sản gắn liền với đất là nhà ở diện tích 56,6 m², tọa lạc tại số A đường số B, khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của ông H và bà M thế chấp cho ngân hàng để đảm bảo cho khoản vay tại ngân hàng. Hội đồng xét xử xét thẩy, việc ký kết hợp đồng thế chấp tài sản của các bên đã thực hiện theo đúng quy định tại Điều 317; Điều 318; Điều 319 Bộ luật Dân sự; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, được sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ; Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm, nên có hiệu lực pháp luật.
Như vậy, căn cứ Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 56 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, yêu cầu của ngân hàng trong trường hợp ông H, bà M không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ chưa đầy đủ, thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi khoản vay là có căn cứ.
Căn cứ kết quả trả lời xác minh của Công an thành phố T và lời khai của bà Trần Thị Hồng M thì nhà đất trên hiện có ông H, bà M cùng với 02 con là ông Lê Hữu T1 và trẻ Lê Hữu Thắng T2 (có người đại diện hợp pháp là ông H và bà M) đang cư trú; ông H, ông T1 không đến Tòa để phản hồi ý kiến; bà M đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định. Do đó, buộc các ông, bà phải giao nhà đất để cơ quan có thẩm quyền thực hiện phát mãi tài sản.
Từ những nhận định trên và căn cứ vào lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á, buộc ông H và bà M có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng số tiền còn nợ của Hợp đồng cấp tín dụng số TED.CN.3906.151021 ngày 16/10/2021, tính đến ngày 30/9/2024, tổng cộng là 675.437.141 đồng và các khoản tiền lãi tiếp tục phát sinh từ ngày 01/10/2024 theo lãi suất được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ. Nếu ông H và bà M không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á được chấp nhận nên ông H và bà M phải chịu án phí trên số tiền 675.437.141 đồng. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á đã đóng tạm ứng, ông H và bà M có trách nhiệm trả lại cho ngân hàng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 317; Điều 318; Điều 319; Điều 463; Điều 466 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006; Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á.
Buộc ông Lê Hữu H và bà Trần Thị Hồng M có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á tổng số tiền còn nợ của Hợp đồng cấp tín dụng số TED.CN.3906.151021 ngày 16/10/2021, tính đến ngày 30/9/2024 là 675.437.141 (Sáu trăm bảy mươi lăm triệu bốn trăm ba mươi bảy nghìn một trăm bốn mươi mốt) đồng; trong đó, nợ gốc là 555.417.148 (Năm trăm năm mươi lăm triệu bốn trăm mười bảy nghìn một trăm bốn mươi tám) đồng, nợ lãi trong hạn là 22.688.230 (Hai mươi hai triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn hai trăm ba mươi) đồng, nợ lãi quá hạn là 92.476.884 (Chín mươi hai triệu bốn trăm bảy mươi sáu nghìn tám trăm tám mươi bốn) đồng và phạt chậm trả lãi là 4.854.879 (Bốn triệu tám trăm năm mươi bốn nghìn tám trăm bảy mươi chín) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
Ngay sau khi ông Lê Hữu H và bà Trần Thị Hồng M thực hiện xong nghĩa vụ tài sản thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á có trách nhiệm hoàn trả lại cho ông Lê Hữu H và bà Trần Thị Hồng M bản chính các giấy tờ của tài sản bảo đảm gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 200279, số vào sổ cấp GCN: CH00608 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 25/10/2010 cho ông Lê Hữu H và bà Trần Thị Hồng M và toàn bộ hồ sơ thế chấp (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số TED BDCN.360.151021 ngày 16/10/2021).
Nếu ông Lê Hữu H và bà Trần Thị Hồng M không thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ nghĩa vụ tài sản, thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 11, tờ bản đồ số 69, diện tích 81 m² và tài sản gắn liền với đất là nhà ở diện tích 56,6 m², tọa lạc tại số A đường số B, khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 200279, số vào sổ cấp GCN: CH00608 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 25/10/2010 cho ông Lê Hữu H và bà Trần Thị Hồng M, để thu hồi khoản vay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á.
Buộc những người đang cư trú tại tài sản thế chấp là ông Lê Hữu H, bà Trần Thị Hồng M, ông Lê Hữu T1, trẻ Lê Hữu Thắng T2 (trẻ Lê Hữu Thắng T2 có người đại diện hợp pháp là ông Lê Hữu H và bà Trần Thị Hồng M) phải giao tài sản thế chấp để cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Hữu H và bà Trần Thị Hồng M chịu án phí là 31.017.486 (Ba mươi mốt triệu không trăm mười bảy nghìn bốn trăm tám mươi sáu) đồng.
H1 lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á số tiền tạm ứng án phí đã nộp đã nộp là 14.612.087 (Mười bốn triệu sáu trăm mười hai nghìn không trăm tám mươi bảy) đồng theo biên lai thu số 0026319 ngày 15/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
Ông Lê Hữu H và bà Trần Thị Hồng M có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 5.000.000 (Năm triệu) đồng.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cần thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Quyền kháng cáo:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Ông Lê Hữu H, bà Trần Thị Hồng M, ông Lê Hữu T1, trẻ Lê Hữu Thắng T3 có người đại diện hợp pháp là ông Lê Hữu H và bà Trần Thị Hồng M, vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nga |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nga |
Bản án số 4934/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 4934/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khỏi kiện của nguyên đơn
