Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 493/2024/DS-PT

Ngày: 03-12-2024

V/v tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất và hợp

đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Thẩm phán: Bà Trịnh Thị Phúc

Bà Huỳnh Thị Hồng Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Phạm Khánh - Kiểm sát viên.

Vào ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 376/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 43/2024/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 434/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trương Thanh H, sinh năm 1970;

    Địa chỉ: Số A đường N, khu phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1991; Địa chỉ: Số D, đường số D, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Long An (Văn bản ủy quyền ngày 08/11/2024).

  2. Bị đơn:
    1. Ông Trương Thanh H1, sinh năm 1966;

      Địa chỉ: Số E, ấp B, xã Đ, huyện T, tỉnh Long An.

    2. Bà Phạm Huỳnh H2, sinh năm 1970;

      Địa chỉ: Số E, ấp B, xã Đ, huyện T, tỉnh Long An.

    Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Bùi Duy T1, sinh năm 1978; Địa chỉ: Số D T, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Long An (Văn bản ủy quyền ngày 09/8/2023).

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Bùi Thị Kim T2, sinh năm 1978;

      Địa chỉ: Số D N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.

    2. Bà Phạm Thị P, sinh năm 1978;

      Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.

    3. Bà Nguyễn Kim P1, sinh năm 1964.
    4. Ông Võ Văn T3, sinh năm 1963.

      Cùng địa chỉ: Số B, Quốc lộ F, phường B, thành phố T, tỉnh Long An.

      Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Kim P1: Ông Võ Văn T3, sinh năm 1963; Địa chỉ: Số B, Quốc lộ F, phường B, thành phố T, tỉnh Long An (văn bản ủy ngày 13/3/2024).

    5. Văn phòng C; Địa chỉ: Số A, đường T, khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.

      Người đại diện: Bà Đỗ Thị M – Trưởng văn phòng.

    6. Bà Nguyễn Thị Kim T4, sinh năm 1997;

      Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. Vắng mặt.

- Người kháng cáo: Ông Trương Thanh H.

( Ông T, ông T1 có mặt;

Các đương sự còn lại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của ông Trương Thanh H và quá trình tố tụng người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn T trình bày:

Ngày 30/9/2018 ông Trương Thanh H và bà Bùi Thị Kim T2 có thỏa thuận nhận chuyển nhượng của ông Trương Thanh H1 và bà Phạm Huỳnh H2 quyền sử dụng đất (viết tắt QSDĐ) các thửa số 223, 228, 164 và 227, cùng tờ bản đồ số 19, cùng tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện T, tỉnh Long An.

Hai bên thỏa thuận ông H1, bà H2 thực hiện thủ tục tách thửa các thửa trên để giao đủ cho ông đủ diện tích 4.000m² (không có thỏa thuận cụ thể diện tích của từng thửa nhưng phải có lối đi vào thửa đất) giá nhận chuyển nhượng là 300.000.000₫/1.000m², tổng số tiền nhận chuyển nhượng 1.200.000.000 đồng. Hai bên không có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (viết tắt HĐCN QSDĐ), không có thỏa thuận thời gian làm hợp đồng. Ông H và bà T2 đã giao đủ số tiền 1.200.000.000 đồng cho ông H1, bà H2. Sau đó, bà T2 không có nhu cầu hợp tác nữa nên ông H đã hoàn trả cho bà T2 số tiền 600.000.000 đồng.

Sau khi nhận đủ tiền ông H1, bà H2 không thực hiện thủ tục tách thửa và giao QSDĐ cho ông H như đã thỏa thuận mà lại thế chấp các thửa đất trên tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 và hứa sau khi giải chấp sẽ thực hiện tách thửa giao QSDĐ cho ông H nhưng ông H1, bà H2 đã không thực hiện đúng thỏa thuận. Vì vậy, ông H khởi kiện yêu cầu ông H1 và bà H2 tiếp tục giao kết HĐCN QSDĐ với diện tích 4.000m² thuộc các thửa đất số 223, 228, 164 và 227 cùng tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện T, tỉnh Long An để làm thủ tục sang tên cho ông.

Trường hợp bị đơn không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn thì nguyên đơn yêu cầu vô hiệu giao kết HĐCN QSDĐ và giải quyết hậu quả hợp đồng. Buộc bị đơn trả nguyên đơn giá trị đất 4000m² là 3.094.608.000 đồng. Theo ông, lý do hai bên không tiếp tục giao kết HĐCN QSDĐ được là do bà H2, ông H1 thế chấp các QSDĐ này vay tiền tại ngân hàng.

Ông H yêu cầu vô hiệu HĐCN QSDĐ giữa ông Trương Thanh H1, bà Phạm Huỳnh H2 với bà Nguyễn Kim P1 được xác lập ngày 02/8/2023 do Văn phòng C chứng thực.

Bị đơn ông Trương Thanh H1 và bà Phạm Huỳnh H2 do ông Bùi Duy T1 đại diện trình bày:

Ông H1 và bà H2 thừa nhận có thỏa thuận chuyển nhượng cho ông H và bà T2 QSDĐ với diện tích 4.000m² nhưng không xác định là thửa đất nào. Ông H1 có nhận 100.000.000 đồng tiền đặt cọc từ bà T2 và ông H, còn số tiền 1.100.000.000 đồng là do bà H2 nhận từ ông H và bà T2.

Bà H2 và ông H1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H. Các QSDĐ thửa số 223, 228, 164 và 227 cùng tờ bản đồ số 19, cùng tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện T, tỉnh Long An là tài sản riêng của ông H1. Ông H1, bà H2 không đồng ý tiếp tục giao kết HĐCN QSDĐ với ông H. Việc giao kết việc HĐCN QSDĐ giữa bà H2 và ông H không thực hiện được do có lỗi của ông H vì ông H nhờ bà H2 thế chấp các QSDĐ này vay tiền tại ngân hàng để cho ông H vay lại nhưng khi nhận tiền cho đến nay ông H không trả tiền lại cho bà H2. Ông H1, bà H2 đồng ý trả cho ông H số tiền đã nhận 1.200.000.000 đồng.

Ngày 19/9/2019 bà H2 có cho ông H và bà Phạm Thị P vay số tiền là 1.190.000.000 đồng, sau khi vay tiền thì ông H và bà P có trả cho bà H2 số tiền lãi là 77.800.000 đồng. Bà H2, ông H1 yêu cầu bà P và ông H liên đới trả số tiền vốn vay là 1.190.000.000 đồng và tiền lãi với lãi suất 10%/năm tính từ ngày 19/9/2019 đến nay, đồng ý khấu trừ lại số tiền lãi đã nhận 77.800.000 đồng.

Hiện bà H2 có thế chấp quyền các QSDĐ thửa số 223, 228, 227, 164 để vay tiền của bà Nguyễn Kim P1 số tiền 1.100.000.000 đồng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Kim T2 vắng mặt nhưng tại bản tự khai ngày 10/8/2023 có ý kiến như sau:

Vào ngày 30/9/2018 bà cùng ông Trương Thanh H có góp vốn mua đất của ông Trương Thanh H1, bà Phạm Huỳnh H2 các thửa đất số 223, 228, 164, 227 cùng tờ bản đồ số 19 cùng tọa lạc xã Đ, huyện T, tỉnh Long An, có lập hợp đồng đề ngày 30/9/2018; ông H1, bà H2 sẽ thực hiện thủ tục đo đạc, tách các thửa đất nêu trên đúng thỏa thuận. Bà và ông H đã giao đủ tiền cho ông H1, bà H2 và nhận bàn giao QSDĐ theo thỏa thuận, riêng thủ tục đo đạc tách thửa và ký công chứng chuyển nhượng sẽ tiến hành sau.

Năm 2019 do bà cần tiền kinh doanh nên đã đề xuất với ông H là rút vốn góp. Ông Hiệp đồng Ý, đã giao cho bà đủ số tiền và sau này làm thủ tục chuyển nhượng thì ông H được toàn quyền đứng tên trên giấy CNQSDĐ.

Hiện nay, bà đã rút phần vốn góp và ông H đã thanh toán đầy đủ nên bà không còn liên quan gì. Mọi quyền lợi của bà trong hợp đồng hiện nay là của ông H. Bà cũng không có ý kiến gì và xin được vắng mặt tất cả các phiên hòa giải và xét xử theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có ý kiến như sau: Bà là vợ của ông Trương Thanh H. Bà xác nhận không biết gì về HĐCN QSDĐ giữa ông H và ông H1.

Ngày 19/9/2019 bà có mượn của bà Phạm Huỳnh H2 số tiền 1.190.000.000 đồng để sử dụng vào việc riêng (ông H không biết), bà và bà H2 không có thỏa thuận lãi suất cũng như thời gian hoàn lại. Số tiền bà mượn của bà H2 không liên quan gì đến việc chuyển nhượng QSDĐ giữa ông H và bà H2. Bà thừa nhận chữ viết và chữ ký trong giấy nợ ngày 19/9/2019 là của bà viết, ký tên. Bà đồng ý trả cho bà H2 số tiền 1.190.000.000 đồng, không đồng ý trả lãi.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Võ Văn T3 đồng thời đại diện cho bà Nguyễn Kim P1 có đơn đề nghị vắng mặt và có ý kiến như sau: Ngày 16/3/2022 ông và bà P1 có cho bà H2, ông H1 mượn số tiền 1.100.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất ngân hàng là 10%/năm, không có thỏa thuận thời gian trả nợ.

Bà H2, ông H1 và bà P1 có làm HĐCN QSDĐ ngày 02/8/2023 để làm tin. Ông và bà P1 không có nhận CNQSDĐ của bà H2, ông H1. Ông đồng ý theo yêu cầu của ông H là vô hiệu HĐCN QSDĐ giữa ông Trương Thanh H1, bà Phạm Huỳnh H2 với bà Nguyễn Kim P1 được xác lập ngày 02/8/2023 do Văn phòng C chứng thực.

Đối với số tiền bà H2, ông H1 có mượn của ông và bà P1 thì ông không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Giữa ông và ông H1, bà H2 sẽ tự thỏa thuận cách trả nợ với nhau.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan văn phòng công chứng Đỗ Thị M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có ý kiến như sau:

Ngày 02/8/2023, tại Văn phòng C có nhận yêu cầu công chứng của ông Trương Thanh H1 và bà Phạm Huỳnh H2 yêu cầu công chứng HĐCN QSDĐ cho bên nhận chuyển nhượng là bà Nguyễn Kim P1.

Sau khi đối chiếu và kiểm tra tính xác thực của việc yêu cầu công chứng cũng như sau khi xác định các chủ thể tham gia có đủ năng lực hành vi dân sự, nội dung hợp đồng giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Các bên đã tự nguyện tham gia giao dịch, đã xuất trình và thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định pháp luật về công chứng HĐCN QSDĐ này.

Trong quá trình công chứng, công chứng viên đã thực hiện đúng pháp luật về trình tự, thủ tục và pháp luật nội dung về công chứng HĐCN QSDĐ theo đúng quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim T4 vắng mặt trong quá trình tố tụng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 43/2024/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An đã căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 217, Điều 218, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 122, Điều 124, Điều 129, Điều 398, Điều 407, Điều 463, Điều 468 và Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 99, Điều 166, 167, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Thanh H về việc yêu cầu bà Phạm Huỳnh H2, ông Trương Thanh H1 tiếp tục giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với các thửa số 223, 228, 164 và 227, cùng tờ bản đồ số 19, cùng tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện T, tỉnh Long An.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trương Thanh H về việc giải quyết hậu quả tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà Phạm Huỳnh H2, ông Trương Thanh H1.
    1. Buộc bà Phạm Huỳnh H2, ông Trương Thanh Hoàng liên Đ trả cho ông Trương Thanh H số tiền 1.200.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm triệu đồng).
    2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trương Thanh H yêu cầu bà Phạm Huỳnh H2 và ông Trương Thanh H1 trả số tiền bồi thường là 1.894.608.000 đồng (Một tỷ, tám trăm chín mươi bốn triệu, sáu trăm lẻ tám nghìn đồng).
  3. Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Huỳnh H2, ông Trương Thanh H1 về việc tranh chấp hợp đồng vay với ông Trương Thanh H và bà Phạm Thị P.
    1. Buộc ông Trương Thanh H và bà Phạm Thị P liên đới trả cho bà Phạm Huỳnh H2, ông Trương Thanh H1 số tiền vốn vay 1.190.000.000 đồng và tiền lãi 497.370.600 đồng, tổng cộng là 1.687.370.600 đồng (Một tỷ, sáu trăm tám mươi bảy triệu, ba trăm bảy mươi nghìn, sáu trăm đồng)
    2. Ngoài ra, ông H và bà P còn phải liên đới cho bà H2 số tiền lãi tính từ ngày 27/7/2024 cho đến khi thi hành án xong theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
  4. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Thanh H tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Huỳnh H2, ông Trương Thanh H1 và bà Nguyễn Kim P1. Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trương Thanh H1, bà Phạm Huỳnh H2 với bà Nguyễn Kim P1 được xác lập vào ngày 02/8/2023 được Văn phòng C chứng nhận ngày 02/8/2023.
  5. Chi phí tố tụng: Bà Phạm Huỳnh H2, ông Trương Thanh H1 phải nộp số tiền 21.250.000 đồng (Hai mươi mốt triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng) để hoàn trả cho ông Trương Thanh H.
  6. Nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
  7. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 03/2024/QĐ-BPKCTT, ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” và sẽ được hủy bỏ theo quy định tại Chương VIII Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  8. Về án phí sơ thẩm:
    1. Ông Trương Thanh H phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) yêu cầu tiếp tục giao kết hợp đồng không được chấp nhận nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004955 ngày 04/8/2023.
    2. Ông Trương Thanh H và bà Phạm Thị P liên đới nộp số tiền 62.621.118₫ (Sáu mươi hai triệu, sáu trăm hai mươi mốt nghìn, một trăm mười tám đồng) án phí trả tiền và 68.838.240đ (Sáu mươi tám triệu, tám trăm ba mươi tám nghìn, hai trăm bốn mươi đồng) án phí yêu cầu bồi thường không được chấp nhận nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp 46.946.000₫ (Bốn mươi sáu triệu, chín trăm bốn mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009354 ngày 28/02/2024 và số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009370 ngày 15/3/2024 của Chi cục Thi hành án huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Ông H và bà P liên đới nộp tiếp số tiền 84.213.358đ (T5 mươi bốn triệu, hai trăm mười ba nghìn, ba trăm năm mươi tám đồng).
    3. Bà Phạm Huỳnh H2, ông Trương Thanh Hoàng liên Đ phải chịu 48.000.000đ (Bốn mươi tám triệu đồng) nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp 29.823.000đ (Hai mươi chín triệu, tám trăm hai mươi ba nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004968 ngày 11/8/2023 của Chi cục Thi hành án huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Bà H2 và ông H1 còn phải liên đới nộp số tiền 18.177.000đ (Mười tám triệu, một trăm bảy mươi bảy nghìn đồng).
    4. Bà Nguyễn Kim P1 phải nộp số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H2, ông H1 với bà P1.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự.

Ngày 06/8/2024, nguyên đơn ông Trương Thanh H kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng buộc bị đơn tiếp tục thực hiện HĐCN QSDĐ với diện tích 4.000m² thuộc các thửa đất số 223, 228, 164 và 227 cùng tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện T, tỉnh Long An để làm thủ tục sang tên cho ông. Trường hợp bị đơn không đồng ý thì bị đơn trả cho nguyên đơn giá trị đất 4000m² là 3.094.608.000đ tại thời điểm xét xử..

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới.

Ông Nguyễn Văn T và ông Bùi Duy T1 thống nhất thỏa thuận như sau:

Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H, bà H2, ông H1: Các đương sự đồng ý vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Trương Thanh H và bà Phạm Huỳnh H2, ông Trương Thanh H1 theo hợp đồng đặt cọc ngày 30/9/2018.

Đối với hậu quả của hợp đồng vô hiệu và hợp đồng vay tài sản: Các đương sự đã thống nhất tự thỏa thuận và thanh toán xong, các đương sự không được quyền khiếu nại hoặc tranh chấp nữa.

Đối với biện pháp khẩn cấp tạm thời: Ông T1 có đơn xin rút lại nên đề nghị Tòa án hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

Các phần khác của bản án sơ thẩm thì giữ nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu:

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử phúc thẩm nghị án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét thấy, tại phiên tòa các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Việc thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Trương Thanh H thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2] Về thủ tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị Kim T2, bà Phạm Thị P, bà Nguyễn Kim P1, ông Võ Văn T3, Văn phòng C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, bà Nguyễn Thị Kim T4 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
  3. [3] Xét kháng cáo của ông Trương Thanh H thấy rằng:
    1. [3.1] Ngày 30/9/2018, giữa ông H và bà T2 có thỏa thuận góp vốn để nhận CNQSDĐ của ông H1, bà H2 với số tiền 1.200.000.000 đồng, mỗi người 600.000.000 đồng nhưng năm 2019 bà T2 đã rút lại số tiền này và ông H đã hoàn trả cho bà T2 số tiền 600.0000.000 đồng nên bà T2 không có ý kiến hay yêu cầu gì. Ông H yêu cầu bà H2, ông H1 tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông.
    2. [3.2] Trong quá trình giải quyết vụ án, ông H và bà H2, ông H1 thống nhất giữa các bên có lập Hợp đồng đặt cọc ngày 30/9/2018, không có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng văn bản.

      Tại “Hợp đồng đặt cọc” giữa các bên thể hiện ông H1 có chuyển nhượng cho ông H, bà T2 diện tích 4000m², giá chuyển nhượng 300.000.000đ/1.000m²; phương thức thanh toán ngày 30/9/2018 đặt cọc số tiền 100.000.000đ. Thực hiện theo đặt cọc này, ông H đã giao đủ tiền cho bà H2 vào các ngày 03/10/2018 giao 200.000.000₫, ngày 07/10/2018 giao 150.000.000đ, ngày 10/11/2018 giao 50.000.000đ, ngày 17/11/2018 giao 325.000.000đ, ngày 23/12/2018 giao 75.000.000đ, ngày 26/12/2018 giao 300.000.000₫ nên ông H xác định số tiền 1.200.000.000₫ là tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Bà H2 cũng thừa nhận có chuyển nhượng đất cho ông H với phần đất 4.000m² và đã nhận 1.200.000.000 đồng.

      Về hình thức của hợp đồng: Giữa ông H và bà H2 không có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chỉ ký hợp đồng đặt cọc bằng giấy tay, hợp đồng không được công chứng, chứng thực nên không đảm bảo về mặt hình thức theo quy định tại Điều 501, Điều 502, Điều 503 Bộ luật Dân sự 2015.

      Về nội dung của hợp đồng: Ông H chỉ thỏa thuận nhận chuyển nhượng của bà H2, ông H1 diện tích 4.000m². Mặc dù, các bên xác định khi thỏa thuận chuyển nhượng đối với các thửa đất số 223, 228, 164 và 227, cùng tờ bản đồ số 19 nhưng không xác định cụ thể diện tích của từng thửa đất (vì theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa đất này có tổng diện tích 5.252,3m² và loại đất cụ thể, các thửa đất này có loại đất LUC, ONT). Ông H yêu cầu ông H1, bà H2 tiếp tục giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất làm thủ tục chuyển nhượng QSDĐ thửa số 223, 228, 164 và 227, cùng tờ bản đồ số 19 theo Mảnh trích đo địa chính số 413-2023 duyệt ngày 27/11/2023 cho ông nhưng ông H1, bà H2 không đồng ý. Hiện nay, các thửa đất này ông H1, bà H2 đang trực tiếp quản lý.

      Quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án cấp sơ thẩm ông Trương Thanh H yêu cầu ông Trương Thanh H1, bà Phạm Huỳnh H2 tiếp tục giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

      Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đồng ý vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trương Thanh H và bà Phạm Huỳnh H2, ông Trương Thanh H1 theo hợp đồng đặt cọc ngày 30/9/2018.

    3. [3.3] Giải quyết hậu quả của hợp đồng bị vô hiệu:

      Theo quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 131 Bộ luật Dân sự thì khi giao dịch dân sự vô hiệu, các bên hoàn trả những gì đã nhận cho nhau, bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

      Các bên đều thừa nhận rằng, ông H đã thanh toán cho bà H2, ông H1 số tiền 1.200.000.000 đồng, bị đơn đồng ý trả lại cho nguyên đơn số tiền đã nhận là 1.200.000.000 đồng và số tiền thiệt hại.

      Tại phiên tòa phúc thẩm các bên đã tự thỏa thuận và thanh toán xong, không ai được quyền khởi kiện tranh chấp nữa.

    4. [3.4] Đối với hợp đồng vay tài sản:

      Ngày 19/9/2019 bà H2 có cho ông H và bà P vay số tiền là 1.190.000.000 đồng, sau khi vay tiền thì ông H và bà P có trả cho bà H2 số tiền lãi là 77.800.000 đồng. Bà H2, ông H1 yêu cầu bà P và ông H liên đới trả số tiền vốn vay là 1.190.000.000 đồng và tiền lãi với lãi suất 10%/năm tính từ ngày 19/9/2019 đến nay.

      Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H2 buộc ông H và bà P liên đới trả cho bà H2, ông H1 số tiền vốn vay 1.190.000.000 đồng và tiền lãi 497.370.600 đồng, tổng cộng là 1.687.370.600 đồng.

      Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thống nhất tự thỏa thuận và thanh toán xong, các đương sự không được quyền tranh chấp đối với khoản tiền vay nữa.

    5. [3.5] Xét thấy, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thống nhất vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đối với hậu quả của hợp đồng vô hiệu và hợp đồng vay tài sản các bên đã tự thỏa thuận và thanh toán xong. Việc thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên căn cứ Điều 300 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
  4. [4] Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trương Thanh H1, bà Phạm Huỳnh H2 với bà Nguyễn Kim P1:

    Ông H yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trương Thanh H1, bà Phạm Huỳnh H2 với bà Nguyễn Kim P1 được xác lập ngày 02/8/2023 do Văn phòng C chứng thực.

    Bà H2 xác định có vay tiền của bà P1, ông T3 và có ký HĐCN QSDĐ được xác lập ngày 02/8/2023. Ông Võ Văn T3 xác định có cho bà H2 vay tiền và ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày 02/8/2023 nên đồng ý theo yêu cầu của ông H. Quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm các đương sự đồng ý vô hiệu hợp đồng, nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông H, vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trương Thanh H1, bà Phạm Huỳnh H2 với bà Nguyễn Kim P1 được xác lập ngày 02/8/2023.

    Đối với hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Bà H2 xác định có vay tiền của bà Nguyễn Kim P1 nhưng ông T3 đại diện cho bà P1 xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết là phù hợp. Trường hợp có tranh chấp thì giải quyết bằng một vụ án khác.

    Thấy rằng, đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trương Thanh H1, bà Phạm Huỳnh H2 với bà Nguyễn Kim P1 Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết, các đương sự không kháng cáo nên có hiệu lực pháp luật.

  5. [5] Ông H xác định không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trương Thanh H, bà Phạm Thị P với bà Nguyễn Thị Kim T4 được xác lập ngày 12/8/2024 do Văn phòng C1 chứng thực nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết là phù hợp.
  6. [6] Đối với Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 03/2024/QĐ-BPKCTT ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An: “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” đối với thửa đất số 681, diện tích 400m², mục đích sử dụng đất ở tại đô thị và thửa đất số 740, diện tích 1.015,2m² mục đích đất chuyên trồng lúa nước cùng tờ bản đồ số 24 cùng tọa lạc khu phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. Do ông T1 là người đại diện theo ủy quyền của bà H2 có đơn xin hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời nên sẽ được hủy bỏ theo quy định tại Điều 138, 139 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  7. [7] Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ 50.500.000 đồng, các đương sự thống nhất thỏa thuận nguyên đơn và bị đơn mỗi người phải chịu ½ chi phí là 25.250.000 đồng. Do nguyên đơn đã nộp số tiền ứng là 46.500.000 đồng, bị đơn đã nộp số tiền 4.000.000 đồng nên bị đơn phải nộp số tiền 21.250.000 đồng trả cho nguyên đơn.
  8. [8] Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Ông H tự nguyện chịu án phí đối với hợp đồng vô hiệu là 300.000 đồng; Bà P1 phải chịu án phí đối với yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H2 và bà P1 là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của ông Trương Thanh H.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2024/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 138, Điều 139, Điều 147, Điều 217, Điều 218, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 122, Điều 124, Điều 129, Điều 398, Điều 407, Điều 463, Điều 468 và Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 99, Điều 166, 167, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Công nhận sự thỏa thuận giữa nguyên đơn ông Trương Thanh H và bị đơn ông Trương Thanh H1 và bà Phạm Huỳnh H2 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng vay tài sản.
    1. Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trương Thanh H và bà Phạm Huỳnh H2, ông Trương Thanh H1 đối với các thửa số 223, 228, 164 và 227, cùng tờ bản đồ số 19, cùng tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện T, tỉnh Long An (theo hợp đồng đặt cọc ngày 30/9/2018).
    2. Đối với hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trương Thanh H và bà Phạm Huỳnh H2, ông Trương Thanh H1 vô hiệu: Các bên đã tự thỏa thuận và thanh toán xong.
    3. Đối với số tiền vay 1.190.000.000 đồng giữa bà Phạm Huỳnh H2, ông Trương Thanh H1 với ông Trương Thanh H và bà Phạm Thị P: Các bên đã tự thỏa thuận và thanh toán xong.
  2. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trương Thanh H1, bà Phạm Huỳnh H2 với bà Nguyễn Kim P1:

    Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Thanh H tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Huỳnh H2, ông Trương Thanh H1 và bà Nguyễn Kim P1.

    Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trương Thanh H1, bà Phạm Huỳnh H2 với bà Nguyễn Kim P1 được xác lập vào ngày 02/8/2023 được Văn phòng C chứng nhận ngày 02/8/2023.

  3. Chi phí tố tụng ở Tòa án cấp sơ thẩm: Chi phí đo đạc, định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ 50.500.000 đồng, các đương sự thống nhất thỏa thuận nguyên đơn và bị đơn mỗi người phải chịu ½ chi phí là 25.250.000 đồng.

    Bà Phạm Huỳnh H2, ông Trương Thanh H1 phải nộp số tiền 21.250.000 đồng (Hai mươi mốt triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng) để hoàn trả cho ông Trương Thanh H.

  4. Đối với biện pháp khẩn cấp tạm thời:

    Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật thì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 03/2024/QĐ-BPKCTT, ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ tỉnh Long An trong quá trình giải quyết vụ án bị hủy bỏ.

    Bà Phạm Huỳnh H2 được nhận lại tài sản bảo đảm với số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng) tại tài khoản phong tỏa đã nộp tại Ngân hàng N - Chi nhánh huyện T, Long An. Địa chỉ: Số A đường N, khu phố T, thị trấn T, tỉnh Long An (Bà Phạm Huỳnh H2 nộp tiền bảo đảm theo Quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 03/2024/QĐ-BPBĐ ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An).

  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Trương Thanh H tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004955 ngày 04/8/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

    Hoàn trả cho ông Trương Thanh H số tiền tạm ứng đã nộp 46.946.000 đồng theo biên lai thu số 0009354 ngày 28/02/2024 và số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009370 ngày 15/3/2024 của Chi cục Thi hành án huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

    Bà Nguyễn Kim P1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

    Bà Phạm Huỳnh H2, ông Trương Thanh H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Phạm Huỳnh H2, ông Trương Thanh H1 số tiền tạm ứng đã nộp 29.823.000 đồng theo biên lai thu số 0004968 ngày 11/8/2023 của Chi cục Thi hành án huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

  6. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Ông Trương Thanh H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009644 ngày 06/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Tân Trụ;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Trụ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; AV./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 493/2024/DS-PT ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 493/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger