Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 493/2024/HSPT

Ngày: 11-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm

Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Thanh Nhã

2. Ông Đinh Quốc Trí

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình, Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên

tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 286/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Xuân V do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân V và kháng cáo của bị hại chị Cao Ngọc M đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HSST ngày 25/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.

Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:

Nguyễn Xuân V, sinh năm 1981.

ĐKHKTT: Thôn Y, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Thôn X, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân V1 và bà Bùi Thị T; có vợ Nguyễn Thị M1 và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không;

D chỉ bản số [...] lập ngày 22/6/2023 tại Công an huyện C, thành phố Hà Nội.

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H; có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại có kháng cáo: Chị Cao Ngọc M, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Xuân V: Ông Nguyễn Tuấn D1, Luật sư của Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt tại phiên tòa.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Cao Ngọc M: Ông Vũ Trần T1 và bà Nguyễn Thị Y, Luật sư của Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; ông T1 vắng mặt, bà Y có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2020, chị Cao Ngọc M đến làm thuê tại xưởng mây, tre đan tại xã N, huyện C, thành phố Hà Nội do Nguyễn Xuân V làm chủ. Trong quá trình làm việc, chị M có quan hệ yêu đương với Nguyễn Xuân V và quan hệ tình dục với V. Tháng 6/2022, chị M quen biết và quan hệ yêu đương với anh Nguyễn Đức H nên chị M đã đề nghị chấm dứt không quan hệ yêu đương với Nguyễn Xuân V để đi lấy chồng.

Ngày 05/02/2023, Nguyễn Xuân V sử dụng điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 8Plus, dùng tài khoản Bamboomv@icloud.com gửi qua hệ thống tin nhắn SMS đến máy điện thoại di động của chị M, những tin nhắn và hình ảnh là hình ảnh nhà ở của gia đình anh H, ảnh nền Zalo của chị Nguyễn Thị P (em họ anh H), yêu cầu chị M đến quán cà phê 7 tầng tại thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội để nói chuyện, chị M đến gặp V tại điểm hẹn. Tại đây, sau khi nói chuyện xong, chị M ra lấy xe máy để đi về thì V đã đưa cho chị M xem hình nền Z “Út Tám” (bà T2 là mẹ đẻ của anh H) với mục đích yêu cầu chị M vào khách sạn P2 tại tổ dân phố T, thị trấn X, huyện C (cạnh quán C tầng) để quan hệ tình dục với V. Thấy vậy, chị M giằng co chiếc điện thoại của V đang cầm trên tay, mục đích để xóa hình ảnh, nhưng không giằng được. Vững nói, nếu chị M đi về thì sẽ nói cho bà T2 biết V và chị M có quan hệ tình dục với nhau. Do lo sợ V sẽ gửi cho gia đình anh H những hình ảnh riêng tư, hình ảnh quan hệ tình dục của mình với V nên chị M đã phải đi với V vào khách sạn PACIFIC, miễn cưỡng cho V quan hệ tình dục cho đến khi V xuất tinh vào trong âm đạo của chị M. Sau khi V quan hệ tình dục xong, chị M đã van xin V không được nói với ai về việc chị M và V có quan hệ tình dục, nếu để lộ sẽ làm mất

danh dự của chị M và ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình chị M, sau đó chị M đi về trước. Trên đường về, chị M lại nhận được tin nhắn, hình nền Z “Út Tám” do V gửi và V yêu cầu chị M phải quay lại khách sạn P2 để gặp V. Khi chị M vào phòng nghỉ mà trước đó đã quan hệ tình dục với V, V và chị M tiếp tục nói chuyện khoảng một giờ đồng hồ, không quan hệ tình dục. Sau đó, V và chị M đi về.

Khoảng 21 giờ ngày 24/02/2023, Nguyễn Xuân V đến thuê phòng số 304 Nhà nghỉ X thuộc xã H, huyện C, thành phố Hà Nội. Tại đây, V đã bí mật đặt máy Camera Wifi sạc dự phòng H12, mục đích lén ghi cảnh quan hệ tình dục với chị Cao Ngọc M tại phòng nghỉ, sau đó chuyển tải các nội dung đã được ghi hình vào chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 8Plus của V. Sau khi chuẩn bị xong, trong thời gian tại nhà nghỉ, V sử dụng tài khoản “MrVung” gửi qua ứng dụng Zalo nhắn tin đến tài khoản “Ngọc M” trên máy điện thoại di động của chị M, yêu cầu chị M đến Nhà nghỉ X để quan hệ tình dục với V. Tuy nhiên, chị M nói đang đưa người nhà đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ nên chị M bảo V đi về, không gặp nhau nữa. Thấy chị M không muốn gặp, V đã nhắn tin, gửi video clip hình ảnh quan hệ tình dục giữa V và chị M trong thời gian hai người có quan hệ tình cảm, mục đích yêu cầu chị M đến để quan hệ tình dục với V, nếu chị M không đến Vững sẽ gửi những hình ảnh quan hệ tình dục giữa V và chị M cho gia đình, bạn bè của chị M biết. Khi chị M nhận được tin nhắn và video clip, chị M lo lắng và sợ V sẽ gửi hình ảnh quan hệ tình dục cho gia đình, bạn bè trong ngày cưới, nên chị M đã thuê xe ô tô đi từ Bệnh viện Đ về nhà nghỉ X miễn cưỡng để cho V quan hệ tình dục mà bản thân không muốn. Sau khi quan hệ tình dục xong, khoảng 03 giờ ngày 25/02/2023, V điều khiển xe ô tô đưa chị M về nhà tại xã H, huyện C, thành phố Hà Nội.

Ngày 25/02/2023, chị Cao Ngọc M kết hôn với anh Nguyễn Đức H rồi về sinh sống cùng nhà anh H tại xã P, huyện C, thành phố Hà Nội. Nguyễn Xuân V lại tiếp tục nhắn tin yêu cầu chị M phải đi quan hệ tình dục với Vững, không được quan hệ tình dục với chồng, mà phải quan hệ tình dục với V khi V gọi đi. Tuy nhiên chị M không đồng ý, đồng thời chặn các số điện thoại liên lạc của V để cho V không liên lạc được với mình. Sau khi không gặp được chị M, khoảng 22 giờ ngày 02/3/2023, V sử dụng tài khoản “Minh P1” (sau đổi thành tài khoản Chili Nguyen) trên máy điện thoại di động nhãn hiệu SamSung GalaxyA71, thông qua ứng dụng mạng xã hội Facebook, V đã gửi 04 đoạn video clip hình ảnh quan hệ tình dục giữa chị M và V đến tài khoản Facebook của anh Nguyễn Hữu T4 (anh T4 là bạn của chồng chị M) với mục đích làm cho vợ chồng chị M xấu hổ với gia đình nhà chồng và bạn bè.

Đến sáng ngày 03/3/2023, anh H cũng nhận được một số đoạn video clip có nội dung là hình ảnh quan hệ tình dục của chị M và V. Do bị V làm nhục, chị M đã dùng dao tự cắt tay của mình để tự vẫn vào chiều ngày 03/3/2023 nhưng do được anh H và gia đình nhà chồng phát hiện, cứu chữa kịp thời nên chị M không bị ảnh hưởng đến tính mạng. Quá bức xúc về hành vi của Nguyễn Xuân V nên ngày 03/3/2023, chị Cao Ngọc M đã làm đơn tố giác đến Công an huyện C đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Sau khi làm đơn tố giác, chiều ngày 04/3/2023, chị M tiếp tục dùng dao tự cắt tay của mình để tự vẫn, nhưng do được anh H và gia đình phát hiện, đưa đến Trạm y tế xã P, huyện C sơ cứu kịp thời nên chị M không bị ảnh hưởng đến tính mạng.

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 8Plus, màu xám, đã qua sử dụng (của Nguyễn Xuân V).
  • - 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SamSung GalaxyA71, màu xanh, đã qua sử dụng (của Nguyễn Xuân V).
  • - 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone XS MAX, màu hồng, đã qua sử dụng (của chị Cao Ngọc M).
  • - 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone XS MAX màu xám, đã qua sử dụng (của anh Nguyễn Đức H).

Đối với vật chứng là chiếc Camera Wifi sạc dự phòng H12, Nguyễn Xuân V khai nhận, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

* Khám nghiệm hiện trường:

  • - Nơi xảy ra vụ việc ngày 05/02/2023, được xác định là Khách sạn PACIFIC thuộc địa phận tổ dân phố T, thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội.
  • - Nơi xảy ra vụ việc đêm ngày 24/02/2023 rạng sáng ngày 25/02/2023, được xác định tại Nhà nghỉ X thuộc thôn V, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội; nơi xảy ra vụ việc được xác định tại phòng số 304 tầng 03.
  • - Quá trình xác định hiện trường, thu giữ 03 đoạn video clip là hình ảnh Nguyễn Xuân V và chị Cao Ngọc M vào và ra phòng số 304.

* Giám định dữ liệu điện tử, phục hồi dữ liệu điện tử:

- Tại bản Kết luận giám định số: 2285/KL-KTHS ngày 19/6/2023 của V2 - Bộ C1 kết luận:

  • + Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh, sửa đối với 03 tệp video clip thu giữ tại Nhà nghỉ X.
  • + Không xác định được 04 tệp video clip do chị Cao Ngọc M cung cấp có bị cắt ghép, chỉnh hay không do hình ảnh được ghi lại qua màn hình của một thiết bị khác.

- Tại bản Kết luận giám định số: 2286/KL-KTHS ngày 27/6/2023 của V2 - Bộ C1 kết luận:

  • + Trong mẫu vật gửi giám định ký kiệu A1: Tìm thấy: 194 tin nhắn Facebook Messenger trong khoảng thời gian từ ngày 08/01/2023 đến ngày 08/3/2023 và 121865 tệp ảnh, 1387 tệp video clip lưu trữ trong máy điện thoại. Chi tiết được lưu trữ trong USB (M1).
  • + Trong mẫu vật gửi giám định ký kiệu A2: Tìm thấy: 140 tin nhắn SMS, 7162 tin nhắn Zalo trong khoảng thời gian từ ngày 08/01/2023 đến ngày 08/3/2023 và 37267 tệp ảnh, 613 tệp video clip lưu trữ trong máy điện thoại. Chi tiết được lưu trữ trong USB (M2).
  • Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn lưu trữ trong thẻ Sim kèm theo.
  • + Trong mẫu vật gửi giám định ký kiệu A3: Tìm thấy: 320 tin nhắn SMS, 2849 tin nhắn Zalo trong khoảng thời gian từ ngày 08/01/2023 đến ngày 08/3/2023 và 25734 tệp ảnh, 968 tệp video clip lưu trữ trong máy điện thoại. Chi tiết được lưu trữ trong USB (M3)
  • Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn lưu trữ trong thẻ SIM kèm theo.
  • + Trong mẫu vật gửi giám định ký kiệu A4: Tìm thấy: 6595 tin nhắn Zalo trong khoảng thời gian từ ngày 08/01/2023 đến ngày 08/3/2023 và 19608 tệp ảnh, 621 tệp video clip lưu trữ trong điện thoại. Chi tiết được lưu trữ trong USB (M3).

Đã chụp ảnh nội dung 106 hội thoại tin nhắn Facebook Messenger trong điện thoại. Chi tiết thể hiện trong USB (ký hiệu M3) gửi kèm theo.

Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn trong khoảng thời gian từ 08/01/2023 đến ngày 08/3/2023 lưu trữ trong thẻ sim kèm theo.

* Về trách nhiệm dân sự: Chị Cao Ngọc M đề nghị giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật, đề nghị Nguyễn Xuân V phải bồi thường cho chị M về danh dự, nhân phẩm, tổn thất tinh thần, sức khỏe theo quy định của pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số 185/CT-VKS ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Xuân V về tội “Cưỡng dâm” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 143 Bộ luật Hình sự và truy tố về tội “Làm nhục người khác” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 155 Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HSST ngày 25/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân V phạm tội “Cưỡng dâm” và tội “Làm nhục người khác”

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 143; điểm b khoản 3 Điều 155; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Nguyễn Xuân V 36 tháng tù về tội “Cưỡng dâm” và 24 tháng tù về tội “Làm nhục người khác”. Tổng hợp hình phạt buộc Nguyễn Xuân V phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội là 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 06/02/2024, bị cáo Nguyễn Xuân V kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt, bị hại chị Cao Ngọc M kháng cáo với nội dung đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Xuân V.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Xuân V thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại chị Cao Ngọc M trình bày, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Xuân V đã thực sự ăn năn hối cải nên chị M xin rút yêu cầu kháng cáo và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội nhận định:

Về hình thức kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân V và bị hại chị Cao Ngọc M trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại phiên tòa, chị M có đơn xin rút đơn kháng cáo, xét việc xin rút đơn kháng cáo của bị hại là tự nguyện, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ việc giải quyết nội dung kháng cáo của bị hại chị Cao Ngọc M.

Về nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân V:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Nguyễn Xuân V, lời khai của bị hại tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Xuân V về tội “Cưỡng dâm” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 143 Bộ luật Hình sự và tội “Làm nhục người khác” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 155 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Xuân V thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, mức hình phạt 36 tháng tù về tội “Cưỡng dâm” và 24 tháng tù về tội “Làm nhục người khác” mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo Nguyễn Xuân V là phù hợp, tương xứng với nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hậu quả xảy ra và hành vi phạm tội của bị cáo.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân V và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Cụ thể:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 143; điểm b khoản 3 Điều 155; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân V 36 tháng tù về tội “Cưỡng dâm” và 24 tháng tù về tội “Làm nhục người khác”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Xuân V phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội là 05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2023.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Xuân V nhất trí với tội danh mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo. Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội xuất phát từ tình cảm, quan hệ yêu đương giữa bị cáo và bị hại, bị cáo đã tích cực tác động gia đình để bồi thường cho bị hại, bị hại cũng có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Nguyễn Xuân V để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về với xã hội. Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại điện thoại Iphone 8Plus do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và điện thoại này có nhiều quan hệ công việc của bị cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, hành vi của bị cáo đã gây tổn hại đến sức khỏe, tinh thần, danh dự

của bị hại. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại đã rút đơn kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân V và bị hại chị Cao Ngọc M trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể, được Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại chị Cao Ngọc M có đơn xin rút đơn kháng cáo, việc rút đơn kháng cáo của chị M là tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu kháng cáo của bị hại chị Cao Ngọc M.

[2]Căn cứ vào lời khai của bị cáo Nguyễn Xuân V, lời khai của bị hại chị Cao Ngọc M, vật chứng thu được, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận:

Năm 2020, chị Cao Ngọc M đến làm thuê tại xưởng mây, tre đan trên địa bàn xã N, huyện C, thành phố Hà Nội do Nguyễn Xuân V làm chủ. Trong quá trình làm việc, giữa V và chị M có quan hệ tình cảm với nhau. Tháng 6/2022, chị Cao Ngọc M quen biết và có quan hệ tình cảm với anh Nguyễn Đức H nên chị M đã đề nghị chấm dứt không quan hệ với V để đi lấy chồng. Vững đã dùng thủ đoạn sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus, thông qua ứng dụng SMS và ứng dụng Zalo gửi tin nhắn cho chị M với nội dung là các hình ảnh liên quan đến gia đình của anh Nguyễn Đức H (chồng sắp cưới của chị M), ảnh nền Z có tên “Út Tám” của bà Trần Thị T5 (mẹ đẻ anh Nguyễn Đức H) và video clip cảnh quan hệ tình dục giữa chị M và V để ép chị Mỹ quan h tình dục với Vững trong ngày 05/02/2023 và ngày 24/02/2023 tại khách sạn P2 có địa chỉ tại thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội và tại nhà nghỉ X có địa chỉ tại xã H, huyện C, thành phố Hà Nội.

Ngày 25/02/2023, chị Cao Ngọc M kết hôn với anh Nguyễn Đức H nên chặn liên lạc với V. Ngày 02/3/2023, V sử dụng tài khoản Facebook Messenger trên máy điện thoại di động nhãn hiệu SamSung GalaxyA71, gửi 04 đoạn video clip cảnh quan hệ tình dục giữa chị M và V đến tài khoản Facebook của anh Nguyễn Hữu T4 (bạn của anh Nguyễn Đức H). Đến ngày 03/3/2023 V tiếp tục gửi video clip hình ảnh quan hệ tình dục của chị M với V qua Zalo cho anh

H (chồng chị M). Mục đích Vững gửi các đoạn video clip đến anh T4 và anh H nhằm làm nhục chị M với chồng, với gia đình nhà chồng và bạn bè của anh H, phá hoại hạnh phúc gia đình chị M. Do xấu hổ với anh H và gia đình anh H nên chị M đã để lại thư tuyệt mệnh và dùng dao (dạng dao cạo loại dao lam) cứa vào cổ tay hai lần vào các ngày 03/3/2023 và 04/3/2023 để tự sát. Tuy nhiên, cả hai lần chị M tự sát đều được anh H và gia đình phát hiện, đưa đi cứu chữa kịp thời nên chị M không bị ảnh hưởng đến tính mạng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân V đã cấu thành tội “Cưỡng dâm” với tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 143 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân V còn cấu thành tội “Làm nhục người khác” với tình tiết “Làm nạn nhân tự sát”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 155 Bộ luật Hình sự.

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Xuân V về tội “Cưỡng dâm” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 143 Bộ luật Hình sự và tội “Làm nhục người khác” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 155 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân V, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền tự do về thân thể, danh dự, nhân phẩm và sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu trong xã hội. Bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo Nguyễn Xuân V không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phù hợp.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Toà án cấp sơ thẩm xem xét bị cáo sau khi phạm tội đã tích cực tác động gia đình để bồi thường cho bị hại, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để cho bị cáo Nguyễn Xuân V được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Xuân V đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, ngoài ra Luật sư của bị cáo xuất trình tài liệu thể hiện bị cáo đã nộp án phí hình sự sơ thẩm, đồng thời

bị hại tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Tuy nhiên, mức hình phạt 36 tháng tù về tội “Cưỡng dâm” và 24 tháng tù về tội “Làm nhục người khác” mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo Nguyễn Xuân V là phù hợp, tương xứng với nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hậu quả xảy ra và hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân V và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

[4]Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm nên bị cáo Nguyễn Xuân V phải nộp án phí hình sự phúc thẩm, bị hại chị Cao Ngọc M không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

[5]Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Xuân V và giữ nguyên Quyết định của bản án sơ thẩm:

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 143; điểm b khoản 3 Điều 155; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân V 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Cưỡng dâm” và 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Làm nhục người khác”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Xuân V phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội là 05 (Năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2023.

  2. Về án phí: áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Xuân V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm; bị hại chị Cao Ngọc M không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 11/6/2024.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - Công an huyện Chương Mỹ;
  • - VKSND huyện Chương Mỹ;
  • - TAND huyện Chương Mỹ;
  • - THADS huyện Chương Mỹ;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, V.Phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 493/2024/HSPT ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự: cưỡng dâm và làm nhục người khác

  • Số bản án: 493/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Cưỡng dâm và Làm nhục người khác
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Năm 2020, chị Cao Ngọc M đến làm thuê tại xưởng mây, tre đan trên địa bàn xã N, huyện C, thành phố Hà Nội do Nguyễn Xuân V làm chủ. Trong quá trình làm việc, giữa V và chị M có quan hệ tình cảm với nhau. Tháng 6/2022, chị Cao Ngọc M quen biết và có quan hệ tình cảm với anh Nguyễn Đức H nên chị M đã đề nghị chấm dứt không quan hệ với V để đi lấy chồng. Vững đã dùng thủ đoạn sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus, thông qua ứng dụng SMS và ứng dụng Zalo gửi tin nhắn cho chị M với nội dung là các hình ảnh liên quan đến gia đình của anh Nguyễn Đức H (chồng sắp cưới của chị M), ảnh nền Z có tên “Út Tám” của bà Trần Thị T5 (mẹ đẻ anh Nguyễn Đức H) và video clip cảnh quan hệ tình dục giữa chị M và V để ép chị Mỹ quan h tình dục với Vững trong ngày 05/02/2023 và ngày 24/02/2023 tại khách sạn P2 có địa chỉ tại thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội và tại nhà nghỉ X có địa chỉ tại xã H, huyện C, thành phố Hà Nội. Ngày 25/02/2023, chị Cao Ngọc M kết hôn với anh Nguyễn Đức H nên chặn liên lạc với V. Ngày 02/3/2023, V sử dụng tài khoản Facebook Messenger trên máy điện thoại di động nhãn hiệu SamSung GalaxyA71, gửi 04 đoạn video clip cảnh quan hệ tình dục giữa chị M và V đến tài khoản Facebook của anh Nguyễn Hữu T4 (bạn của anh Nguyễn Đức H). Đến ngày 03/3/2023 V tiếp tục gửi video clip hình ảnh quan hệ tình dục của chị M với V qua Zalo cho anh H (chồng chị M). Mục đích Vững gửi các đoạn video clip đến anh T4 và anh H nhằm làm nhục chị M với chồng, với gia đình nhà chồng và bạn bè của anh H, phá hoại hạnh phúc gia đình chị M. Do xấu hổ với anh H và gia đình anh H nên chị M đã để lại thư tuyệt mệnh và dùng dao (dạng dao cạo loại dao lam) cứa vào cổ tay hai lần vào các ngày 03/3/2023 và 04/3/2023 để tự sát. Tuy nhiên, cả hai lần chị M tự sát đều được anh H và gia đình phát hiện, đưa đi cứu chữa kịp thời nên chị M không bị ảnh hưởng đến tính mạng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger