Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 493/2024/HS-PT

Ngày 25 tháng 6 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Thịnh;
Các Thẩm phán: Ông Phan Văn Yên
Bà Lê Thúy Cầu

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước; Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 288/2023/TLPT-HS ngày 15 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim L; Do kháng cáo của bị hại và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

- Bị cáo (không có kháng cáo):

Nguyễn Thị Kim L (tên gọi khác: không) sinh năm 1966 tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi thường trú: Khu Đ, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Buôn bán; cha là Nguyễn T (đã chết); mẹ là Đào Thị Hồng V sinh năm 1944; gia đình bị cáo có 02 anh em, anh lớn sinh năm 1963, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; chồng là Lê Giao H (đã chết); có 02 người con, lớn sinh năm 1992 và nhỏ sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/02/2023 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Lê Minh Đ, sinh năm 1976; có mặt.

Địa chỉ: 9 N, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

- Người bào chữa cho bị cáo:

Luật sư Trần Thị N – Luật sư thuộc Văn phòng L1 - Đoàn luật sư tỉnh B; có mặt.

Địa chỉ: Quốc lộ A, khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim S, sinh năm 1976; vắng mặt.
  2. Địa chỉ: Khu phố Tân Bình, phường Tân Bình, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

  3. Ông Nguyễn Quang Q, sinh năm 1983; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  4. Địa chỉ: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

  5. Bà Lê Thị H1, sinh năm 1981; vắng mặt.
  6. Địa chỉ: Ấp B, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

  7. Ông Ninh Công T1, sinh năm 1988; vắng mặt.
  8. Địa chỉ: Thôn F, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

  9. Ông Nguyễn Xuân M, sinh năm 1981; vắng mặt.
  10. Địa chỉ: thôn P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

  11. Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1981; vắng mặt.
  12. Địa chỉ: thôn D, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

  13. Ông Tạ Văn N1, sinh năm 1985; vắng mặt.
  14. Địa chỉ: tổ A, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

  15. Bà Thân Thị X, sinh năm 1979; có đơn xin vắng mặt.
  16. Địa chỉ: khu Đ, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

  17. Văn phòng C1; vắng mặt.
  18. Địa chỉ: Khu H, thị trấn Đ, huyện B, Bình Phước.

  19. Văn phòng C2; vắng mặt.
  20. Địa chỉ: Đường H, khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

  21. Văn phòng C3; vắng mặt.
  22. Địa chỉ: Số B QL14, Đ, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 19/3/2020, thông qua ông Trần Mạnh C, tại quán C4 gần ngã tư Đ, Đ đồng ý nhận chuyển nhượng (mua) 04 quyền sử dụng đất (QSDĐ) gồm thửa 77, 79, 80, 81 cùng tờ bản đồ số 22, với tổng diện tích 124.493,5m² (12,4ha), tọa lạc tại thôn E, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (liền kề nhau) của bà Nguyễn Thị Kim L với giá 1.620.000.000đ, đặt cọc 50.000.000₫ (BL 50,52,54,264,294). Lúc này 04 thửa đất trên đang được bà L thế chấp tại Ngân hàng A, chi nhánh huyện B, tỉnh Bình Phước.

Ngày 15/5/2020, do cần tiền để giải chấp lấy 04 giấy chứng nhận (GCN) QSDĐ trên tại Ngân hàng về ký chuyển nhượng cho Đ nên bà L đã điện thoại thỏa thuận lại với ông Đ. Theo đó ông Đ thanh toán trước 1.540.000.000đ cho bà L, đổi lại bà L phải làm thủ tục sang tên và chịu hết chi phí chuyển nhượng, thuế thu thập, thuế trước bạ cho ông Đ, số tiền 30.000.0000đ còn lại khi nào sang sổ đứng tên ông Đ thì mới thanh toán hết thì ông Đ đồng ý (BL264,267,294). Hôm sau, ngày 16/5/2020 ông Đ chuyển khoản số tiền 1.540.000.000 đồng vào tài khoản trên của bà L với nội dung: “TRA TIEN MUA DAT - NGUYEN THI KIM LOAN (trả tiền mua đất – Nguyễn Thị Kim L) (BL51). Ngày 18/5/2020, bà L đã dùng 1.500.000.000đ trong số tiền ông Đ chuyển trả tiền vay Ngân hàng A chi nhánh huyện B, còn lại 40.000.000₫ bà L đã tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 19/5/2020, tại Văn phòng C5) Nguyễn Thị Cẩm T2 (nay là Văn phòng C1), ông Đ và bà L ký HĐCN số 2603, 2604, 2605, 2606 chuyển nhượng 04 thửa đất trên (BL180-183, 194-197, 208-211, 222-225). Sau khi công chứng xong hợp đồng, ông Đ đưa tất cả hồ sơ chuyển nhượng cùng giấy tờ liên quan cho bà L để làm thủ tục đăng ký biến động sang tên cho ông Đ (BL177, 178-235, 267, 270, 294, 315).

Sau khi bán cho Đ 03 ngày, ngày 22/5/2020 (03 ngày sau), bà L đem 04 QSDĐ trên thế chấp (bằng hình thức HĐCN viết tay) cho bà Nguyễn Thị S để vay 500.000.000 đồng từ nguồn tiền của em bà S là ông Nguyễn Quang Q (BL43, 267). Từ ngày 22/5/2020 đến ngày 11/9/2020, bà L nhiều lần vay, trả tiền, cấn trừ tiền rồi vay thêm tiền của bà S (nguồn tiền của Q) và bà Lê Thị H1. Trong đó, ngày 12/6/2020, tại VPCC H, L ký thế chấp dưới hình thức HĐCN số 2887 đối với thửa 77 cho Q và Phạm Quang H3 (H3 đứng tên giùm H1) (BL113-116). Đồng thời, S và H1 giữ GCN QSDĐ thửa 79, Quyên giữ GCN QSDĐ thửa 80, 81 của L để đảm bảo khoản vay (BL322, 323).

Đến ngày 12/9/2020, L và bà S chốt nợ với nhau xác định L còn nợ bà S 969.000.000₫ (BL 44, 45, 46, 307) nên ngày 21/9/2020 L thế chấp cho S (Q đứng tên) dưới hình thức HĐCN số 5640, 5641, 5642 đối với 03 thửa đất số 79, 80, 81 tại V1; còn đối với thửa đất số 77, do L đã thanh toán trả tiền vay cho bà H1 nên ngày 24/9/2020, ông Q và ông H3 đã hủy HĐCN ngày 12/6/2020 và trả GCN QSDĐ thửa số 77 cho L.

Đến tháng 02/2021, do không có tiền trả 969.000.000đ gốc và lãi suất cho bà S, lợi dụng việc ông Đ giao các HĐCN, GCNQSDĐ cùng các giấy tờ liên quan để làm thủ tục đăng ký biến động sang tên ông Đ nên ngày 25/02/2021 L ký hợp đồng hủy bỏ HĐCN với Q để ký HĐCN số 02036, 02037, 02038 bán 3 thửa đất 79, 80, 81 cho S để cấn trừ nợ (BL117-120, 152-155, 91-93, 145-148, 125-128, 156-159, 98-100, 141-144, 133-136, 160-162, 105-107, 137-140). Sau đó, bà S tiến hành đăng ký biến động đất đứng tên bà S (BL96-97, 103-104, 110-111). Sau khi đứng tên, S chuyển nhượng cho Ninh Công T1. T1 tiếp tục chuyển nhượng cho Nguyễn Xuân M (S và T1 hủy bỏ HĐCN trước đó rồi ký HĐCN từ Sen sang M) (BL308, 321).

Riêng thửa đất 77, sau khi được trả lại, L giữ đến ngày 02/12/2020 thì thế chấp bằng hình thức hợp đồng ủy quyền cho bà Nguyễn Thị H2 để vay 170.000.000đ, H2 đưa trước 60.000.000đ rồi nói sẽ tìm người nhận thế chấp thửa đất 77 để vay thêm tiền thì L đồng ý. Bà H2 tiếp tục nhờ bà Thân Thị X tìm người nhận thế chấp thửa đất. Sau khi xem xong giấy chứng nhận QSDĐ, X nói với bà H2 và được bà H2 đồng ý để Xiêm thế chấp thửa đất số 77 cho ông Tạ Văn N1 để vay thêm tiền.

Khoảng 17h00 ngày 06/12/2020, sau khi xem thông tin thửa đất xong, ông N1 đồng ý cho bà X vay 1.000.000.000đ với điều kiện bà L thế chấp thửa đất này bằng hình thức HĐCN. Ngày 07/12/2020, tại văn phòng C3 thuộc QL14, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước, bà H2 ký hủy hợp đồng ủy quyền với L, bà L ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên cho chị vợ ông Nhất là bà Nguyễn Thị Thu H4 (ông N1 nhờ đứng tên giùm). Sau đó, tất cả đến quán “Café S18” của X ở thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Tại đây, X viết giấy vay tiền với thời hạn 03 tháng, lãi suất 3%/tháng rồi ông N1 đưa cho X 910.000.000₫ (lấy trước tiền lãi suất 90.000.000đ của 03 tháng). Sau khi nhận tiền xong, X đưa H4 170.000.000₫ để H4 đưa cho L, còn giữ lại 740.000.000đ. Số tiền 170.000.000đ này, H4 viết giấy L vay của H4 170.000.000đ rồi đưa thêm cho L 110.000.000₫ giữ lại 60.000.000₫ và 2.000.000đ Loan cho, số còn lại 108.000.000đ, L tiêu xài hết (BL271,277-278, 312, 327, 328A). Đến hạn, X và L không trả tiền nên H4 làm thủ tục đăng ký biến động và ngày 05/3/2021 đã được cập nhật biến động đứng tên bà Nguyễn Thị Thu H4 (BL89).

Tất cả những lần ủy quyền, thế chấp, chuyển nhượng quyền sử dụng 04 thửa đất trên, L đều không thông báo ông Đ biết. Do đó, ngày 15/04/2021, ông Đ thỏa thuận chuyển nhượng cho ông Phạm Vinh Q1 04 thửa đất trên với giá 3.600.000.000đ, đặt cọc trước 500.000.000đ, hẹn đến ngày 15/6/2021 sẽ ký HĐCN. Đến hẹn, ông Q1 không nhận chuyển nhượng thì mất cọc, ngược lại ông Đ không ký chuyển nhượng phải bồi thường cọc gấp 3 lần (1,5 tỷ) (BL 59, 60, 61, 62-64, 294, 318). Sau khi nhận tiền cọc từ ông Q1, ông Đ đã nhiều lần liên hệ, hối thúc bà L đưa 04 GCNQSDĐ để ông Đ ký chuyển nhượng cho ông Q1 thì bà L đưa ra nhiều thông tin gian dối, chưa hoàn thành thủ tục chuyển nhượng cho ông Đ (BL261, 265, 267, 271,272). Sau khi tìm hiểu, ông Đ phát hiện bà L đã chuyển nhượng 04 QSDĐ của mình và đã đăng ký biến động sang tên người khác (BL01).

Ngày 17/5/2021 ông Đ cùng ông C đến nhà bà L hỏi thì bà L vẫn khẳng định rằng bà L đã làm thủ tục sang tên QSDĐ cho ông Đ (đang để ở sở TNMT, chờ sang tên), toàn bộ cuộc nói chuyện được ông Đ ghi âm (BL 78-81, 267,271, 294, 314). Ngày 26/5/2021, tại quán cà phê “Bờ Hồ” ở thị trấn Đ, huyện B gồm bà L, ông C, ông Đ và ông T3, bà L vẫn tiếp tục nói dối, khẳng định vẫn đang làm sổ cho ông Đ chưa xong thì ông Đ nói: “chị đã bán đất của em cho người khác rồi thì sao làm sổ được”, nghe vậy bà L cãi và dắt xe ra về (BL 267,271, 294, 314). Do đó, ngày 16/8/2021 ông Đ làm đơn tố cáo bà L đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Kim L đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên (BL260-264,3, 264-265, 266-267, 270-273, 274, 276, 277-279, 280-281, 282-283, 284-286, 578-579) lý do đã chuyển nhượng cho ông Đ rồi nhưng do làm ăn thua lỗ và để có tiền kinh doanh bất động sản nên L đã lấy quyền sử dụng đất của ông Đ đem ủy quyền, cầm cố cho người khác, sau đó chuyển nhượng luôn (BL265,268,275).

Kết luận định giá số 1212/KLHĐGTS ngày 28/4/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự tỉnh Bình Phước kết luận giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất: Thửa 77 là 672.116.000 đồng, thửa 79 là 928.236.000 đồng, 80 là 832.351.299 đồng, thửa 81 là 994.589.805 đồng. Tổng giá trị 04 thửa đất trên tại thời điểm tháng 5/2020 là 2.321.285.000 đồng, tại thời điểm tháng 4/2023 là 3.427.293.000 đồng (BL 84, 345-346).

Tại kết luận giám định số 5283/KL-KTHS ngày 13/12/2022 của Phân viện kỹ thuật hình sự tại TP . kết luận (BL78-81):

“Tiếng nói của người nam (Ký hiệu “Đạt” trong “Bản dịch nội dung”) trong file (phai) âm thanh mẫu cần giám định và tiếng nói của ông Lê Minh Đ trong mẫu so sánh là của cùng một người nói ra. Tiếng nói của người nữ (Ký hiệu “Loan” trong “Bản dịch nội dung”) trong file âm thanh mẫu cần giám định và tiếng nói của bà Nguyễn Thị Kim L trong mẫu so sánh là của cùng một người nói ra. Nội dung hội thoại trong file âm thanh mẫu cần giám định đã được thành văn bản (“Bản dịch nội dung” gồm 04 trang giấy A4). Kèm theo kết luận giám định: Bản “Bản dịch nội dung” gồm 04 trang giấy A4”.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại OPPO, màu trắng bạc, số imel 1: 865543053243336 và imel 2: 865543053243328. Trong máy gắn thẻ sim số: 0911469080 và 0983767547

Về trách nhiệm dân sự: ông Đ yêu cầu bà L phải bồi thường gồm tiền mua đất và đặt cọc là 1.590.000.000 đồng và tiền bị phạt cọc với chi phí đi lại cho ông Phạm Vinh Q1 1.000.000.000 đồng, chi phí đi lại và tiền tổn thất tinh thần 300.000.000đ. Tổng cộng số tiền mà ông Đ yêu cầu bà L phải bồi thường là 2.890.000.000 đồng.

Cáo trạng số 47/CT-VKSBP-P1 ngày 30/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim L phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 07 tháng 3 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước đã quyết định:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim L phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”

Về áp dụng điều luật và hình phạt:

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim L 14 (mười bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/02/2023. Tiếp tục giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thị Kim L không kháng cáo.

Ngày 15/3/2024 bị hại Lê Minh Đ có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.

Ngày 22/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị số 07/QĐ/VC3-V1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 07/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm vì các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm xác định bị cáo L phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là không chính xác, đồng thời Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa giải quyết hậu quả pháp lý đối với các hợp đồng chuyển nhượng của 04 thửa đất nêu trên giữa bị cáo Nguyễn Thị Kim L với các đương sự Nguyễn Thị S và vợ chồng ông Tạ Văn N1, bà Nguyễn Thị Thu H4.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên Quyết định kháng nghị số 07/QĐ/VC3-V1 ngày 22/3/2024.

Bị hại Lê Minh Đ đề nghị Hội đồng xét xử hủy Bản án sơ thẩm vì Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo L về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là không đúng vì toàn bộ 04 thửa đất bị cáo L đã chuyển nhượng xong cho bị hại Đ, các hợp đồng đã được công chứng, tiền đã giao đủ cho bị cáo L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai tội danh của bị cáo, xác định sai tư cách bị hại không phù hợp với động cơ, mục đích của bị cáo. Trong vụ án này bị hại là bà S và vợ chồng ông N1, mục đích bị cáo chiếm đoạt là tiền của ông N1 và bà S.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, chấp nhận kháng cáo của bị hại, hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo: Thống nhất quan điểm của kiểm sát viên nên không tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[2] Quá trình điều tra đã chứng minh được ngày 19/5/2020, tại Văn phòng C5) Nguyễn Thị Cẩm T2 (nay là Văn phòng C1), bị cáo Nguyễn Thị Kim L ký HĐCN số 2603, 2604, 2605, 2606 chuyển nhượng 04 thửa đất 77, 79, 80, 81 cho bị hại Nguyễn Minh Đ1 với giá 1.620.000.000 đồng (ông Đ1 đã thanh toán 1.590.000.000 đồng, còn lại 30.000.000 đồng khi nào sang tên ông Đ1 sẽ thanh toán hết. Sau khi công chứng xong hợp đồng, theo thỏa thuận ông Đ1 đưa tất cả hồ sơ chuyển nhượng cùng giấy tờ liên quan cho L để làm thủ tục đăng ký biến động sang tên cho ông Đ1. Lợi dụng việc được ông Đ1 giao 04 HĐCN, GCNQSDĐ cùng các giấy tờ liên quan để làm thủ đăng ký biến động, ngày 25/02/2021 L chuyển nhượng 03 thửa đất 79, 80, 81 cho bà Nguyễn Thị Kim S để cấn trừ nợ với số tiền 969.000.000đ. Riêng thửa đất 77 bị cáo L ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên cho chị vợ ông Nhất là bà Nguyễn Thị Thu H4 (ông N1 nhờ đứng tên giùm) để vay số tiền 910.000.000₫.

[3] Như vậy, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 04 thửa đất nêu trên từ bị cáo L cho ông Lê Minh Đ đã hoàn thành, thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Đ. Lợi dụng việc ông Đ đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm thủ tục sang tên thì bị cáo L đã dùng thủ đoạn gian dối đối với bà S, ông N1 rằng 04 thửa đất trên vẫn thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bị cáo, bà S ông N1 tin tưởng các thửa đất này là của bị cáo L, nên nhận chuyển nhượng các thửa đất này, từ đó bị cáo L chiếm đoạt của bà S 969.000.000 đồng, chiếm đoạt của ông N1 910.000.000 đồng.

[4] Hành vi nêu trên của bị cáo L đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 Bộ luật hình sự, bị hại trong vụ án này là bà S và ông N1, còn ông Lê Minh Đ tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Trong vụ án này 4 thửa đất 77, 79, 80, 81 vẫn thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Đ.

[5] Xét Tòa án cấp sơ thẩm có sai lầm trong việc xác định tội danh và tư cách bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và các đương sự trong vụ án mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, chấp nhận kháng cáo của ông Lê Minh Đ hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 07/QĐ/VC3-V1 ngày 22/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Chấp nhận kháng cáo của ông Lê Minh Đ.

Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Thị Kim L cho đến khi Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước thụ lý lại vụ án.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1);
  • - TAND tỉnh Bình Phước (2);
  • - VKSND tỉnh Bình Phước (1);
  • - Cục THADS tỉnh Bình Phước (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước (1);
  • - Công an tỉnh Bình Phước (1);
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Phước (2);
  • - Lưu VP(3), HS(2). 20bNTHUY.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Minh Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 493/2024/HS-PT ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự phúc thẩm về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 493/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger