Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Bản án số: 492/2024/DS-PT

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày 12-12-2024

 

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Hoàng

Các Thẩm phán:

Ông Dương Hùng Quang

Bà Hoàng Thị Hải Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 388/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2024, về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 284/2024/DS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 322/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Bà Hồ Thị Mỹ N, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số B, đường T, khóm D, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
  2. Ông Đinh Anh V, sinh năm 1991. Địa chỉ: Số C, đường T, khóm E, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của ông Đinh Anh V: Bà Hồ Thị Cẩm V1, sinh năm 1972. Địa chỉ: Số C, đường T, khóm E, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn:

  1. Ông Lâm Văn D, sinh năm 1960 (xin xét xử vắng mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1956 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Số D, đường N, khóm D, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Thu T: Ông Ngô Đình C, sinh năm: 1958. Địa chỉ: Địa chỉ: Số C, đường N, khóm D, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lâm Văn D và bà Nguyễn Thị Thu T: Luật sư Ngô Đình C - Văn phòng Luật sư Ngô Đình C thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C. Địa chỉ: Số C, đường N, khóm D, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Người kháng cáo: Ông Lâm Văn D và bà Nguyễn Thị Thu T là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Hồ Thị Mỹ N trình bày:

Bà Hồ Thị Mỹ N và ông Đinh Anh V có phần đất đồng sử dụng được Văn phòng đăng ký đất đai Sở tài nguyên môi trường tỉnh C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 354275 và CK 354276, phần đất diện tích 208,8m², thửa đất số 168, tờ bản đồ số 70, tọa lạc tại khóm E, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Nguồn gốc phần đất của bà N và ông V có được trước đây là của bà Vũ Thị C1 nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn P nhưng không rõ diện tích bao nhiêu, sau khi nhận chuyển nhượng đất từ ông P, bà C1 có chuyển nhượng lại và tặng cho lại nhiều người, diện tích đất còn lại 208,8m² bà C1 tặng cho bà Hồ Thị Cẩm V1. Năm 2017 bà V1 tặng cho lại ông Đinh Anh V (con bà V1) và bà Hồ Thị Mỹ N (em bà V1) đồng sử dụng, bà N và ông V được cấp đổi tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng năm 2017.

Sau khi được tặng cho, bà N và ông V quản lý đất đúng vị trí ranh giới, đến ngày 30/01/2024 bà N và ông V phát hiện ông D và bà T lấn chiếm ngang 1,5m x dài 29m với diện tích 43,5m² nên có yêu cầu Ủy ban nhân dân phường I, thành phố C giải quyết nhưng kết quả không thành. Tại đơn khởi kiện bà N yêu cầu ông D và bà T tháo dỡ hàng cừ tràm và trả lại phần đất lấn chiếm ngang 1,5m x dài 29m, diện tích 43,5m² cho bà N và ông V. Qua đo đạc thực tế chưa trừ lộ giới thì phần đất tranh chấp có diện tích 58,1m², đối trừ chỉ giới lộ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng bà N và ông V được cấp (09m x 1,5m = 13,5m²) thì phần đất tranh chấp có diện tích thực tế là 44,6m². Vì vậy bà N yêu cầu ông D và bà T tháo dỡ hàng cừ tràm và trả lại phần đất lấn chiếm diện tích 44,6m² thuộc một phần thửa số 168, tờ bản đồ số 70, bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2009, đất tọa lạc tại khóm E, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của ông Đinh Anh V trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bà N, yêu cầu ông D và bà T tháo dỡ hàng cừ tràm trả lại phần đất lấn chiếm diện tích 44,6m² thuộc một phần thửa số 168, tờ bản đồ số 70, bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2009, đất tọa lạc tại khóm E, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

- Tại biên bản hòa giải và quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Thu T và ông Lâm Văn D là bị đơn trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp trước đây là của bà Nguyễn Thị Tú E (mẹ bà T). Năm 2018, bà Tú E chuyển nhượng lại cho bà T và ông D ngang 02m x dài 30m với giá 30.000.000 đồng, do đất không đủ diện tích được cấp giấy chứng nhận theo quy định nên việc chuyển nhượng chỉ có Trưởng ban N1, phường I xác nhận. Khi chuyển nhượng đất có tiến hành đo đạc cắm cừ tràm làm ranh, bà V1 cũng thống nhất ranh đất được cắm và ranh đất giữa hai bên đã ổn định từ trước đến nay. Do thời gian lâu nên cừ tràm được dùng cắm làm ranh trước đây bị mục nên năm 2023 bà T và ông D tiến hành cắm lại ranh đất, khi cắm lại ranh thì cắm đúng vị trí cũ không thay đổi. Bà T và ông D không thừa nhận lấn chiếm đất, vì vậy không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà N và ông V.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 284/2024/DS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Mỹ N và anh Đinh Anh V.

Buộc ông Lâm Văn D và bà Nguyễn Thị Thu T tháo dỡ hàng cừ tràm để trả lại cho bà Hồ Thị Mỹ N và anh Đinh Anh V phần đất theo đo đạc thực tế 44,6m², thuộc một phần thửa số 168, tờ bản đồ số 70, bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2009, đất tọa lạc tại khóm E, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Có kèm theo bản vẽ hiện trạng đo đạc ngày 13/8/2024 của Trung tâm K. DT:58,1m² – 13,5m² lộ giới theo Giấy CNQSD đất bà N và anh V).

Buộc ông Lâm Văn D và bà Nguyễn Thị Thu T có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Hồ Thị Mỹ N và anh Đinh Anh V số tiền 11.319.000 đồng.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất, chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024 bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu T và ông Lâm Văn D kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 284/2024/DS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đinh Anh V và bà Hồ Thị Mỹ N.

Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Thu T đồng thời là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Lâm Văn D và bà Nguyễn Thị Thu T là ông Ngô Đình C xác định bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa là đúng theo quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Lâm Văn D và bà Nguyễn Thị Thu T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 284/2024/DS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét kháng cáo của bị đơn là ông Lâm Văn D và bà Nguyễn Thị Thu T:

Bị đơn cho rằng: Căn cứ vào hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đối với Vũ Thị C1, Hồ Anh S ngày 17/5/2013; hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đối với Vũ Thị C1, Hồ Anh S ngày 06/11/2017 cho ông Đinh Anh V và bà Hồ Thị Mỹ N thửa số 168, tờ bản đồ số 70, diện tích là 208,8 m² đất ở đô thị tại phường I, thành phố C ngang 7,2m, dài 29m.

Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Về trình tự, thủ tục do cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2013 cho bà C1 và ông S là đúng quy định của pháp luật cụ thể: Cơ quan nhà nước đã thực hiện việc xác minh đo đạc hồ sơ cấp quyền sử dụng đất, có văn bản xác nhận nguồn gốc đất của người chuyển nhượng cho bà C1 và ông S là ông Nguyễn Văn P, có phiếu lấy ý kiến của khu dân cư, có mặt bằng hiện trạng ranh giới, kích thước thửa đất rộng 7,2m x dài 29m, có lập danh sách công khai tên chủ sử dụng đất niêm yết tại Ủy ban nhân dân phường I, thành phố C, mặt bằng hiện trạng ranh giới thửa đất cũng đã được bà Tú E và hộ tiếp giáp trực tiếp ký tên xác nhận. Sau khi bà C1 và ông S được cấp giấy chứng nhận và quản lý sử dụng diện tích đất trên, tại thời điểm này bà Tú E cũng không có ý kiến phản đối gì. Năm 2013 bà C1 và ông S đã tặng cho phần đất trên cho bà V1, năm 2017 bà V1 tặng cho lại bà N và anh V. Trong suốt quá trình thực hiện việc tặng cho, điều chỉnh tên, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Mặc khác, xuyên suốt quá trình quản lý sử dụng đất từ khi bà C1 có văn bản thỏa thuận với bà Tú E ngày 01/3/2011 đồng thời bà C1 và ông S được cấp quyền sử dụng phần đất trên thì phía bà C1 và ông S trực tiếp quản lý sử dụng liên tục đến khi tặng cho lại bà V1 và bà V1 làm thủ tục tặng cho lại bà N và ông V đều đúng với diện tích, vị trí, ranh giới thửa đất không phát sinh tranh chấp, đến khi bà N và ông V được tặng cho cũng quản lý sử dụng phần đất ổn định liên tục đến khi xảy ra tranh chấp với ông D và bà T vào năm 2023.

Căn cứ vào bản vẽ hiện trạng ngày 13/8/2024 của Trung tâm K thì phần đất thì phần đất tranh chấp có tổng diện tích 44,6m² với chiều ngang mặt tiền và hậu là 1,5m và dài là 38,71m (đã trừ lộ giới). Nếu xác định ranh đất theo phía bà N xác định thì phần đất bà N ngang mặt tiền và mặt hậu tính luôn cả diện tích tranh chấp là 7,2m ngang đúng như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nguyên đơn được cấp. Nếu xác định ranh đất theo phía bị đơn là bà T xác định thì phần đất của bà N chiều ngang chỉ còn 5,70m cả mặt tiền và mặt hậu là thiếu so với giấy chứng nhận bà N được cấp.

Xét chứng cứ tài liệu do phía bị đơn là ông D và bà T cung cấp là giấy tờ nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Tú E cụ thể là “Tờ sang nhượng đất”, có xác nhận của Trưởng khóm D, phường I, thành phố C ngày 30/4/2018. Xét nội dung “Tờ sang nhượng đất” thể hiện nội dung bà Tú E chuyển nhượng lại cho ông D một phần đất tại khóm D, phường I, thành phố C, đường vào Hẻm T củ, kích thước 02m x 30m tuy nhiên không thể hiện rõ phần đất chuyển nhượng bà Tú E đã được cấp quyền sử dụng chưa, phần đất chuyển nhượng này thuộc thửa đất và tờ bản đồ nào, vị trí đất có các cạnh tiếp giáp với những ai. Do vậy việc ông D và bà T chỉ căn cứ vào “Tờ sang nhượng đất”, này và cho rằng ông bà quản lý sử dụng đất ổn định nên ông bà có quyền sử dụng đối với phần đất tranh chấp trên là không có cơ sở.

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ xác định phần đất tranh chấp diện tích 44,6m², thuộc một phần thửa số 168, tờ bản đồ số 70, bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2009, đất tại khóm E, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau, thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà N và ông V. Hiện tại phần đất tranh chấp trên do ông D và bà T quản lý nên án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N và ông V yêu cầu ông D và bà T trả lại diện tích đất tranh chấp nêu trên là có căn cứ. Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bà T đồng thời là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng phần đất nguyên đơn thiếu là do phía giáp ranh bên bà B và ông T1 lấn chiếm mà không phải do phía bị đơn lấn như án sơ thẩm xác định. Xét lý do bị đơn đưa ra là không có căn cứ bởi lẽ: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm từ khi hòa giải đến khi đo đạc thẩm định tại chổ và đưa vụ án ra xét xử phía bị đơn bà T hoàn toàn không có ý kiến gì về nội dung này, ranh đất giữa bà B và ông T1 với nguyên đơn thể hiện theo biên bản thẩm định là ổn định và không có tranh chấp. Mặc khác bị đơn trình bày nhưng chỉ là nhận định chủ quan mà không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào chứng minh cho trình bày của mình nên không có cơ sở xem xét.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn có kháng cáo nhưng cũng không cung cấp thêm được tài liệu và chứng cứ nào mới ngoài các tài liệu chứng cứ mà cấp sơ thẩm đã xem xét.

[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Lâm Văn D và bà Nguyễn Thị Thu T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 284/2024/DS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là phù hợp với nhận định trên nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[5] Về án phí:

  • - Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông D và bà T không phải chịu do thuộc trường hợp được miễn án phí. Nguyên đơn bà Hồ Thị Mỹ N và ông Đinh Anh V không phải chịu án phí, đã dự nộp được nhận lại.
  • - Án phí dân sự phúc thẩm: Ông D và bà T không phải chịu do là người cao tuổi đã được xét miễn nộp tạm ứng án phí và án phí theo quy định.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn là ông Lâm Văn D và bà Nguyễn Thị Thu T.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 284/2024/DS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Mỹ N và ông Đinh Anh V.

Buộc ông Lâm Văn D và bà Nguyễn Thị Thu T tháo dỡ hàng cừ tràm để trả lại cho bà Hồ Thị Mỹ N và ông Đinh Anh V phần đất theo đo đạc thực tế 44,6m², thuộc một phần thửa số 168, tờ bản đồ số 70, bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2009, đất tọa lạc tại khóm E, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Có kèm theo bản vẽ hiện trạng đo đạc ngày 13/8/2024 của Trung tâm K. DT:58,1m² – 13,5m² lộ giới theo Giấy CNQSD đất bà N và anh V).

Buộc ông Lâm Văn D và bà Nguyễn Thị Thu T có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Hồ Thị Mỹ N và ông Đinh Anh V số tiền 11.319.000 đồng.

Kể từ ngày bà Hồ Thị Mỹ N và ông Đinh Anh V có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Lâm Văn D và bà Nguyễn Thị Thu T không thanh toán xong khoản tiền nêu trên thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

  1. Án phí dân sự sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm ông Lâm Văn D và bà Nguyễn Thị Thu T được miễn theo quy định. Bà Hồ Thị Mỹ N và ông Đinh Anh V không phải chịu án phí, ngày 06/6/2024 bà N và ông V đã dự nộp tiền tạm ứng án phí số tiền 2.936.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau theo biên lai thu số 0008785 được nhận lại.
  2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn là ông Lâm Văn D và bà Nguyễn Thị Thu T không phải chịu do là người cao tuổi đã được xét miễn nộp tạm ứng án phí và án phí theo quy định.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau;
  • - Chi cục THADS thành phố Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Châu Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 492/2024/DS-PT ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 492/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: GIữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger