|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 492/2025/DS-PT Ngày: 16/12/2025 Về việc tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Kiều
Các Thẩm phán:
Ông Lê Phan Công Trí
Bà Giang Thị Cẩm Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Duy Linh, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Trần Hồng Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 382/2025/TLPT-DS ngày 15 tháng 10 năm 2025, về việc “Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 112/2025/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 413/2025/QĐ-PT ngày 23 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Yến D, sinh năm 1987 (có mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp B, xã K, tỉnh Cà Mau).
- Bị đơn:
- Ông Lê Chí L, sinh năm 1988 (vắng mặt)
- Ông Lê Hải L1, sinh năm 1980 (vắng mặt)
- Bà Lê Thị L2, sinh năm 1956 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau (nay là ấp B, xã P, tỉnh Cà Mau).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Cà Mau (Không triệu tập)
- Bà Huỳnh Thị B (Không triệu tập)
- Bà Lê Thị Loan T (Không triệu tập)
- Ông Lê Hoàng N (Không triệu tập)
- Ông Lê Quốc K (Không triệu tập)
- Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1968 (vắng mặt)
- Bà Đinh Thị T1, sinh năm 1958 (Không triệu tập)
- Ông Lê Chí T2 (Không triệu tập)
- Ông Lê Hữu D1 (Không triệu tập)
- Ông Lê Văn N1 (Không triệu tập)
- Ông Lê Minh T3, sinh năm 1982 (Không triệu tập)
- Bà Lê Thị L3 (Không triệu tập)
- Bà Lê Thùy D2 (Không triệu tập)
- Bà Lê Thị D3 (Không triệu tập)
- Ông Lê Trung H, sinh năm 1994 (Không triệu tập)
- Bà Lê Anh T4, sinh năm 2001 (Không triệu tập)
Địa chỉ: Ấp V, xã P, tỉnh Cà Mau.
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp B, xã K, tỉnh Cà Mau).
Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp L, xã T, tỉnh Cà Mau).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau (nay là ấp B, xã P, tỉnh Cà Mau).
Địa chỉ: Khóm D, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau (nay là Khóm D, xã C, tỉnh Cà Mau).
- Người kháng cáo: Bà Lê Yến D là nguyên đơn
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 19/11/2024 và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Lê Yến D trình bày: Ông bà nội bà D là cụ Lê Văn C (chết năm 1971) và cụ Đặng Thị H1 (chết năm 2019). Cụ C và cụ H1 có 06 người con gồm: Bà Lê Thị L2, ông Lê Văn Q (chết năm 2020), ông Lê Văn Đ1 (chết lúc 21 tuổi chưa vợ con), ông Lê Văn K1 (chết năm 2023), bà Lê Thị C1 (chết năm 2022) và bà Lê Thị Đ.
Ông Lê Văn Q có vợ bà Đinh Thị T1, ông Q và bà T1 có 05 người con gồm: Ông Lê Minh H2 (chết năm 2021), ông Lê Hải L1, ông Lê Văn N1, ông Lê Văn T5, ông Lê Chí L. Ông H2 và vợ bà Lê Thị Y (chết năm 2010). Ông H2 và bà Y có 03 người con gồm Lê Chí T2, ông Lê Hữu D1 và Lê Anh T4.
Ông Lê Văn K1 (chết) và vợ bà Huỳnh Thị B. Ông K1 và bà B có 04 người con gồm ông Lê Quốc K, ông Lê Hoàng N, bà Lê Yến D và bà Lê Thị Loan T.
Bà Lê Thị C1 (chết) và chồng ông Lê Văn C2 (chết năm 2013). Bà C1 và ông C2 có 04 người con gồm bà Lê Thị L3, bà Lê Thùy D2, bà Lê Thị D3, ông Lê Chí H3.
Khi còn sống cụ C và cụ H1 tạo lập được 01 phần đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 312612 do UBND huyện C, tỉnh Cà Mau cấp ngày 09/8/1993 đã được Văn phòng đăng ký đất đai huyện P, tỉnh Cà Mau chỉnh lý ngày 31/5/2017 cụ thể: thửa số 262, 264 tờ bản đồ số 01 diện tích 7.524m², trong đó đất ở 300m², đất trồng cây lâu năm 4.450m², đất nuôi trồng thủy sản 2.684m², theo kết quả đo đạc thực tế của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P 10.805,7m². Trước khi cụ H1 chết chưa phân chia cho các con và không để lại di chúc.
Vào ngày 11/7/2022 cha bà là ông Lê Văn K1 và những người cùng hàng thừa kế là bà C1, bà L2, bà Đ ký vào văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế nhưng việc lập văn bản không đúng quy định pháp luật. Ông K1 không biết chữ chỉ viết được tên nhưng cán bộ xã P đem văn bản đến cho ông K1 ký nhưng không đọc lại văn bản và không giải thích. Văn bản phân chia di sản không có sự tham gia của hàng thừa kế thứ nhất của ông Q. Văn bản được UBND xã P chứng thực vào ngày 01/8/2022. Sau khi lập văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế thì bà C1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) diện tích 9.761,6m², bà L2 được cấp GCNQSDĐ diện tích 1.044,1m². Sau đó, bà C1 đã chuyển nhượng cho ông L và ông L1.
Việc chuyển nhượng đất giữa ông K1 và ông Q năm 1993 tại thời điểm đó bà còn nhỏ nên không xác định được có việc chuyển nhượng hay không. Nếu trường hợp có việc chuyển nhượng thì nay bà vẫn yêu cầu chia thừa kế và không yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông K1 trong giấy chuyển nhượng ngày 30/12/1993. Thống nhất kết quả thẩm định giá của Công ty cổ phần Đ2 và kết quả đo đạc bổ sung của Chi nhánh M – Công ty TNHH T6.
Nay yêu cầu hủy bỏ văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày 11/7/2022 được UBND xã P chứng thực ngày 01/8/2022, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L, ông L1 và bà L2, phân chia di sản thừa kế phần đất do cụ H1 chết để lại theo đo đạc thực tế bà L2 quản lý diện tích 910,4m², phần đất ông L quản lý diện tích 775,6m² không trừ diện tích khu mộ và phần đất theo diện tích GCNQSDĐ được cấp cho ông L1 (do phần đất này không đo đạc thực tế được). Yêu cầu cầu được nhận 1/5 diện tích và nhận hiện trạng vị trí tại phần đất ông L được cấp giấy.
Quá trình tham gia tố tụng bị đơn bà Lê Thị L2 trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của bà D về hàng thừa kế của cụ H1 và di sản do bà H1 để lại phần đất diện tích 10.805,7m² tại ấp B, xã P, tỉnh Cà Mau. Trước đây, bà sinh sống tại huyện T (nay là xã T) sau khi xác lập văn bản phân chia di sản thừa kế được UBND xã P chứng thực ngày 01/8/2022 thì bà đã được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh C cấp GCNQSDĐ phần đất 1.044,1m² tại ấp B, xã P, tỉnh Cà Mau và cất nhà sinh sống trên phần đất cho đến nay.
Bà xác định khi lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế thì ông K1 đang bị bệnh tai biến không đi lại được, nói chuyện khó khăn nhưng vẫn còn nhận thức được hành vi. Sau khi bà đến UBND xã P ký vào văn bản phân chia di sản thì cán bộ xã đem văn bản trên đến nhà cho ông K1 ký. Còn việc cán bộ xã có đọc và giải thích cho ông K1 hay không thì không rõ.
Nay yêu cầu hủy bỏ văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được UBND xã P chứng thực ngày 01/8/2022, hủy giấy GCNQSDĐ đã cấp cho bà, phân chia di sản thừa kế do cụ H1 chết để lại theo đo đạc thực tế phần đất bà quản lý diện tích 910,4m², phần đất ông L quản lý diện tích 775,6m², phần ông L1 quản lý theo giấy chứng nhận 8.905,8m². Yêu cầu cầu được nhận 1/5 diện tích đất và yêu cầu nhận phần đất có vị trí tại căn nhà do Nhà nước đã xây dựng cho bà.
Quá trình tham gia tố tụng bị đơn ông Lê Hải L1 trình bày: Vào năm 1993 cha mẹ được cụ H1 tặng cho phần đất diện tích 13.300m² tại xã P, tỉnh Cà Mau. Cũng vào năm 1993 cụ H1 cho ông K1 phần đất 03 công tầm lớn (diện tích 3.888m²) và cho bà Đ phần đất ngang 13 tầm dài 39 tầm trong phần diện tích 10.805,7m². Sau khi được cho đất thì ông K1 không sinh sống trên phần đất mà chuyển nhượng toàn bộ phần đất cho ông Q với giá 03 chỉ vàng 24K. Năm 2003 bà Đ cũng chuyển nhượng phần đất cho ông Q. Ông Q sinh sống trên phần đất từ thời điểm chuyển nhượng đến nay không xảy ra tranh chấp. Sau khi văn bản phân chia di sản được lập thì phần bà C1 được nhận diện tích 9.761,6m² và bà C1 đã chuyển nhượng cho ông và ông L toàn bộ. Việc ông K1 ký văn bản từ chối nhận di sản cũng là để hợp thực hoá việc trước đây ông K1 đã được cụ H1 cho đất và chuyển nhượng cho ông Q. Do bà Đ ở xa khó khăn trong việc thực hiện thủ tục nên bà C1 và ông đã xác lập hợp đồng chuyển nhượng là để hợp thức hoá việc trước đây bà Đ đã chuyển nhượng cho ông Q để ông thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận. Sau khi thực hiện thủ tục chuyển nhượng thì ông đã được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh C cấp giấy chứng nhận số DG 249076 diện tích 6.593,1m² và giấy chứng nhận số DG 249077 diện tích 2.312,7m² cùng ngày 15/9/2022 tại ấp B, xã P, tỉnh Cà Mau. Ông xác định thủ tục cấp các giấy chứng nhận là đúng quy định pháp luật nên không đồng ý việc Toà án đo đạc phần đất và không đồng ý huỷ các giấy chứng nhận đã được cấp. Mặc dù, văn bản phân chia di sản không có gia đình ông tham gia định đoạt di sản nhưng ông không đặt ra yêu cầu gì. Ông K1 đã từ chối nhận di sản nay hàng thừa kế thế vị của ông K1 yêu cầu phân chia lại di sản của cụ H1 để lại nên không chấp nhận.
Quá trình tham gia tố tụng bị đơn ông Lê Chí L trình bày: Sau khi xác lập văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế thì bà C1 đã chuyển nhượng cho ông một phần trong phần diện tích được nhận theo văn bản phân chia di sản và ông đã được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh C cấp giấy chứng nhận số DG 249083 diện tích 855,8m² ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau. Việc chuyển nhượng giữa ông và bà C1 cũng là để hợp thức hoá việc gìn giữ phần mồ mã của dòng họ chứ thực tế không có việc giao nhận tiền. Mặc dù, văn bản phân chia di sản không có gia đình ông tham gia định đoạt di sản nhưng ông không đặt ra yêu cầu gì. Trường hợp Toà án phân chia lại di sản do cụ H1 để lại theo quy định pháp luật thì ông xác định việc cấp giấy chứng nhận cho ông là đúng theo quy định nên không đồng ý việc huỷ giấy và không đồng ý việc phân chia di sản do cụ H1 để lại.
Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị Đ trình bày: Vào năm 1993 cụ H1 cho ông Q phần đất 13.300m² và đã được cấp GCNQSDĐ hiện nay vợ con ông Q đang quản lý. Cũng năm 1993 mẹ cũng cho ông K1 diện tích 3.888m², cho bà C1 phần đất khoảng 06 công và đã được cấp GCNQSDĐ. Sau khi cho đất ông Q và bà C1 thì diện tích còn lại của mẹ còn lại 10.805,7m². Sau khi cho đất thì ông K1 chưa được tách sổ, bà C1 đã được tách sổ. Đến ngày 30/12/1993 ông K1 chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất cho ông Q giá 03 chỉ vàng 24K. Ngày 04/7/2003 họp gia đình và thống nhất cho bà phần diện tích ngang 13 tầm dài 30 tầm, việc cho đất không thực hiện hợp đồng tặng cho cũng như chưa tách sổ, sau khi cho bà không sinh sống trên đất mà sinh sống tại huyện T. Đến ngày 26/12/2003 bà chuyển nhượng toàn bộ phần đất cho ông Q giá 15.000.000 đồng. Do tất cả các anh chị em trong gia đình đã được mẹ cho đất chỉ có bà L2 chưa được cho nên các anh em thống nhất từ chối nhận di sản để bà C1 được nhận phần đất 9.761,6m², bà L2 nhận phần đất 1.044,1m². Việc bà C1 nhận đất và sau đó chuyển nhượng cho ông L1 là để hợp thức hoá việc chuyển nhượng của bà và ông Q trước đó. Do bà ở xa, bà C1 thì ở gần nên để bà C1 đi thực thủ tục sẽ dễ hơn. Và việc chuyển nhượng từ bà C1 và ông L là để cho ông L gìn giữ phần mồ mã của dòng họ. Nay không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Bà Đinh Thị T1 trình bày: Vào khoảng năm 1993 mẹ chồng cụ Đặng Thị H1 có cho ông K1 phần đất 03 công tầm lớn và cho bà Đ phần đất ngang 39m dài 90m trong phần diện tích 10.805,7m² của cụ H1. Việc ông L1 đứng tên GCNQSDĐ như hiện nay cũng là hợp thức hoá việc ông K1 đã chuyển nhượng cho ông Q. Trước đây, cụ H1 được vợ chồng nuôi dưỡng đến khi chết nên các anh em trong gia đình thống nhất để một phần đất gìn giữ mồ mã giao cho ông L quản lý, do ông L không trực tiếp di sản nên bà C1 đã chuyển nhượng cho ông L để hợp thức hoá nội dung đã thoả thuận trong gia đình. Nay không chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn.
- Bà Huỳnh Thị B, ông Lê Quốc K và ông Lê Hoàng N trình bày: Các ông bà từ chối nhận thừa kế tài sản của ông Lê Văn K1 được hưởng theo quy định pháp luật và giao cho bà Lê Yến D được nhận sử dụng.
- Ông Lê Trung H, ông Lê Minh T3, bà Lê Anh T4 trình bày: Đối với việc tranh chấp không có ý kiến, yêu cầu gì. Yêu cầu xét xử vắng mặt đến khi giải quyết xong vụ án.
- UBND xã P xác định: Về trình tự, thủ tục đối với việc chứng thực Văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất của bà Đặng Thị H1 chưa kê khai hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn Q là chưa đúng quy định. Về việc yêu cầu huỷ văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế của nguyên đơn UBND xã không có ý kiến, tuy nhiên trước đây ông Lê Văn K1 đã được bà Đặng Thị H1 cho một phần diện tích 03 công tầm lớn bằng 3.888m², phần đất do ông K1 quản lý đến ngày 30/12/1993 ông K1 đã chuyển nhượng phần đất này cho ông Q. Hàng thừa kế của ông Q gồm vợ và các con của ông Q đều thống nhất với văn bản phân chia di sản đã lập không có yêu cầu phân chia lại. Yêu cầu được vắng mặt đến khi giải quyết xong vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 112/2025/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau quyết định:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 609, 611, 612, 623, 649, 650, 651, 652, 660 Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Yến D về việc tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày 11/7/2022 được Ủy ban nhân dân xã P chứng thực ngày 01/8/2022 vô hiệu; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất DM 249076 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh C ngày 15/9/2022, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất DM 249077 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh C cấp cùng ngày 15/9/2022 mang tên Lê Hải L1; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất DM 249083 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh C cấp ngày 15/9/2022 mang tên Lê Chí L; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất DM 596855 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh C ngày 19/8/2022 mang tên Lê Thị L2. Phân chia di thừa kế của cụ Đặng Thị H1 phần đất tổng diện tích theo đo đạc thực tế 10.591,8m² tại ấp B, xã P, tỉnh Cà Mau.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lê Thị L2 về việc yêu cầu phân chia di thừa kế của cụ Đặng Thị H1 phần đất tổng diện tích theo đo đạc thực tế 10.591,8m² tại ấp B, xã P, tỉnh Cà Mau.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 29 tháng 8 năm 2025, Nguyên đơn bà Lê Yến D kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Lê Yến D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo
Phần tranh luận tại phiên tòa:
Bà Lê Yến D trình bày: Yêu cầu Tòa xem xét việc chia thừa kế và vấn đề sang bán trong vụ án này là như thế nào.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Yến D. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 112/2025/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của bà Lê Yến D được thực hiện trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Cụ Lê Văn C (mất năm 1971) và cụ Đặng Thị H1 (mất năm 2019) có tất cả sáu người con, gồm: Bà Lê Thị L2, ông Lê Văn Q (mất năm 2020), Ông Lê Văn Đ1 (mất khi 21 tuổi, chưa có vợ con), ông Lê Văn K1 (mất năm 2023), bà Lê Thị C1 (mất năm 2022), bà Lê Thị Đ.
Ông Lê Văn Q có vợ là bà Đinh Thị T1, hai người có năm người con: ông Lê Minh H2 (mất năm 2021), ông Lê Hải L1, ông Lê Văn N1, ông Lê Văn T5 và ông Lê Chí L.
Ông Lê Minh H2 kết hôn với bà Lê Thị Y (mất năm 2010), có ba người con là: ông Lê Chí T2, ông Lê Hữu D1 và bà Lê Anh T4.
Ông Lê Văn K1 (đã mất) có vợ là bà Huỳnh Thị B, sinh được bốn người con gồm: ông Lê Quốc K, ông Lê Hoàng N, bà Lê Yến D và bà Lê Thị Loan T.
Bà Lê Thị C1 (đã mất) có chồng là ông Lê Văn C2 (mất năm 2013), có bốn người con là: bà Lê Thị L3, bà Lê Thùy D2, bà Lê Thị D3 và ông Lê Chí H3.
Trong thời gian chung sống, cụ C và cụ H1 có tạo lập được một phần đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 312612 do UBND huyện C, tỉnh Cà Mau cấp ngày 09/8/1993, được Văn phòng đăng ký đất đai huyện P chỉnh lý ngày 31/5/2017. Phần đất này gồm thửa số 262 và 264, tờ bản đồ số 01, tổng diện tích 7.524 m² (gồm 300 m² đất ở, 4.450 m² đất trồng cây lâu năm và 2.684 m² đất nuôi trồng thủy sản). Theo kết quả đo đạc thực tế của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P, diện tích hiện nay là 10.805,7 m².
Trước khi qua đời, cụ H1 chưa phân chia di sản cho các con và không để lại di chúc. Ngày 11/7/2022, ông Lê Văn K1 cùng các đồng thừa kế gồm bà Lê Thị C1, bà Lê Thị L2 và bà Lê Thị Đ có ký vào Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.
Đây là các tình tiết, sự kiện được các bên đương sự thừa nhận nên không cần chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Nguyên đơn Lê Yến D cho rằng Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế do Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau lập ngày 01/08/2022 là không đúng quy định pháp luật do Cụ H1 và cụ C có tất cả 06 người con gồm bà L2, ông Q, ông Đ1, ông K1, bà C1, bà Đ trong đó ông Q chết năm 2020, ông Đ1 chết lúc nhỏ không thuộc hàng thừa kế nhưng khi lập văn bản phân chia di sản thừa kế bà C1, ông K1, bà L2, bà Đ không cung cấp thông tin về hàng thừa kế của ông Quang L4 bỏ sót hàng thừa kế; ông K1 không biết chữ nhưng khi ký văn bản không được nghe đọc lại nên cũng không biết ký văn bản với nội dung gì. Từ đó, yêu cầu tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày 11/7/2022 được Ủy ban nhân dân xã P chứng thực ngày 01/8/2022 vô hiệu.
Hội đồng xét xử, xét thấy, hàng thừa kế của ông Q là vợ và các con ông Q không ai có ký kiến và yêu cầu gì đối với Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày 11/7/2022 được Ủy ban nhân dân xã P chứng thực ngày 01/8/2022. Nguyên đơn cho rằng ông K1 không biết chữ và không được nghe đọc lại nội dung văn bản trước khi ký nhưng nguyên đơn không cung cấp được tài liệu xác thực chứng minh tại thời điểm ký văn bản, ông K1 không được người khác đọc cho nghe nội dung văn bản. Hơn nữa, tại thời điểm ký văn bản, ông K1 không bị mất hay hạn chế nhận thức nên ông K1 tự định đoạt được hành vi ký tên của mình vào văn bản phân chia thừa kế. Lập luận của nguyên đơn cho rằng ông K1 không biết chữ, không biết rõ nội dung văn bản, đây chỉ là ý kiến chủ quan của nguyên đơn, không có cơ sở xác thực. Hơn nữa, sau khi văn bản thỏa thuận lập ngày 11/7/2022 được UBND xã P thực hiện được nêm yết tại UBND xã từ ngày 11/7/2022 đến 29/7/2022 không có cá nhân, tổ chức nào khiếu nại, đến ngày 01/8/2022 UBND xã P thực hiện chứng thực, cho nên có đủ cơ sở xác định văn bản thoả thuận phân chia di sản được UBND xã P chứng thực ngày 01/8/2022 thể hiện ý chí ông K1 đã tự nguyện từ chối nhận di sản và đồng ý nhường phần tài sản mình được hưởng cho bà C1 và bà L2 là đúng sự thật.
Bà Lê Yến D cho rằng giấy chuyển nhượng ngày 30/12/1993 giữa ông Lê Văn K1 và ông Lê Văn Q là không phù hợp với quy định của pháp luật, không có việc ông K1 được tặng cho cũng như chuyển nhượng nhưng không yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông K1 tại “Tờ chuyển nhượng phần đất” ngày 30/12/1993.
Tại phiên toà phúc thẩm phía bà Lê Yến D không cung cấp tài liệu chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà Lê Yến D.
[3] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp với quan điểm Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng: Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà D nên bà D phải chịu chi phí đo đạc (lần 1) là 8.659.000 đồng, đo đạc (lần 2) là 3.926.000 đồng; thẩm định giá 9.600.000 đồng. Bà D đã thanh toán xong.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bà Lê Yến D không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Yến D. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 112/2025/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau.
Áp dụng: Điều 609, 611, 612, 623, 649, 650, 651, 652, 660 Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, Điều 28 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Yến D về việc tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày 11/7/2022 được Ủy ban nhân dân xã P chứng thực ngày 01/8/2022 vô hiệu; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất DM 249076 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh C ngày 15/9/2022, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất DM 249077 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh C cấp cùng ngày 15/9/2022 mang tên Lê Hải L1; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất DM 249083 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh C cấp ngày 15/9/2022 mang tên Lê Chí L; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất DM 596855 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh C ngày 19/8/2022 mang tên Lê Thị L2. Phân chia di thừa kế của cụ Đặng Thị H1 phần đất tổng diện tích theo đo đạc thực tế 10.591,8m² tại ấp B, xã P, tỉnh Cà Mau.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc 12.585.000 đồng, chi phí thẩm định giá 9.600.000 đồng buộc bà Lê Yến D phải chịu toàn bộ. Bà Lê Yến D đã thanh lý xong.
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Yến D đã nộp tiền tạm ứng án phí là 1.621.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0019076 ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (nay là Thi hành án dân sự tỉnh C) được chuyển thu.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Yến D phải chịu 300.000 đồng. Vào ngày 29 tháng 8 năm 2025, bà Lê Yến D đã dự nộp 300.000 đồng, biên lai số 0011690, được chuyển thu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lệ Kiều |
||||||
|
|||||||
Bản án số 492/2025/DS-PT ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất
- Số bản án: 492/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chi thừa kế quyền sử dụng đất
