Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 491/2024/DS-ST

Ngày: 26-7-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Túy Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Phước Trinh
  2. Bà Phạm Thị Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên toà: Ông Võ Ngọc Duy – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 563/2022/TLST-DS ngày 08 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 250/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 328/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V1).

Địa chỉ trụ sở chính: Tầng A và tầng 2, Tòa nhà S - Số A, đường P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V, chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thu H, chức vụ: Giám đốc trung tâm quản lý nợ Ngân hàng bán lẻ.

(Theo Giấy ủy quyền số: 27869.20 ngày 04/01/2021)

Người đại diện theo ủy quyền lại: Bà Trần Ngọc H1, bà Lê Phương A, ông Hà Xuân D, chức vụ: Cán bộ Ngân hàng.

Địa chỉ liên lạc: Tầng F, Tòa nhà P, Số B, đường U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

(Theo Giấy ủy quyền số: 095874.24 ngày 15/5/2024)

2. Bị đơn: Ông Lê Hữu P, sinh năm 1997

Địa chỉ: Tổ B, ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 07 tháng 01 năm 2022, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q - có người đại diện theo ủy quyền lại là ông Hà Xuân D trình bày:

Ngày 29/6/2020, ông Lê Hữu P có ký Hợp đồng tín dụng số 5460822.20 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 5460822 (1).20 ngày 30/6/2020 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q với số tiền vay là 890.000.000₫ (Tám trăm chín mươi triệu đồng). Thời hạn vay 72 tháng, lãi suất 9,2%/năm. Mục đích vay thanh toán tiền mua xe ô tô. Đồng thời ông P có thế chấp 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu PEUGEOT, biển số 51H-760.73.

Sau khi vay, Ngân hàng vẫn để xe cho ông P trực tiếp quản lý, sử dụng. Ngân hàng xác định hiện không biết được chiếc xe ô tô nhãn hiệu PEUGEOT, biển số 51H-760.73 ông P đang quản lý sử dụng hay ông P đã giao cho ai quản lý sử dụng hay không, vì sau khi không thanh toán tiền cho Ngân hàng, ông P đều né tránh nên phía Ngân hàng không làm việc được với ông P. Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, ông P đã nhận đủ tiền vay nhưng không thanh toán đầy đủ, đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh.

Nay Ngân hàng yêu cầu ông P trả Ngân hàng số tiền gốc 716.400.000₫ (Bảy trăm mười sáu triệu bốn trăm nghìn đồng), lãi tạm tính từ ngày 10/9/2021 đến ngày 26/7/2024 gồm: Lãi trong hạn là 58.284.062đ (Năm mươi tám triệu hai trăm tám mươi bốn nghìn không trăm sáu mươi hai đồng); tính từ ngày 15/7/2020 đến ngày 26/7/2024 thì lãi quá hạn là 345.368.052₫ (Ba trăm bốn mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi tám nghìn không trăm năm mươi hai đồng) và lãi chậm thanh toán là 14.555.854₫ (Mười bốn triệu năm trăm năm mươi lăm nghìn tám trăm năm mươi bốn đồng), tổng cộng là 1.134.607.968đ (Một tỷ một trăm ba mươi bốn triệu sáu trăm lẻ bảy nghìn chín trăm sáu mươi tám đồng). Ngoài ra, ông P còn phải chịu lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong tiền vay.

Do khi đề nghị vay chỉ có cá nhân ông P ký vay nên Ngân hàng chỉ yêu cầu cá nhân ông P có trách nhiệm trả nợ.

- Bị đơn ông Lê Hữu P đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, giấy triệu tập đương sự đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do vậy, Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi phát biểu quan điểm đối với vụ án như sau:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp luật. Kiến nghị khắc phục vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại điểm b khoản 1 Điều 203 của BLTTDS 2015.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ hợp đồng tín dụng số: 5460822.20 ký ngày 29/6/2020 giữa Ngân hàng Q và ông P, Khế ước nhận nợ số 5460822(1).20 ngày 30/6/2020, có cơ sở để xác định ông P đã nhận đủ số tiền vay 890.000.000đ (Tám trăm chín mươi triệu đồng) từ Ngân hàng Thương mại cổ phần Q. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, bị đơn không thanh toán đúng hạn. Tính đến ngày 26/7/2024 ông P nợ Ngân hàng Q tổng số tiền là 1.134.607.968đ (Một tỷ một trăm ba mươi bốn triệu sáu trăm lẻ bảy nghìn chín trăm sáu mươi tám đồng), trong đó, nợ gốc là 716.400.000₫ (Bảy trăm mười sáu triệu bốn trăm nghìn đồng), nợ lãi trong hạn là 58.284.062đ (Năm mươi tám triệu hai trăm tám mươi bốn nghìn không trăm sáu mươi hai đồng), lãi quá hạn và chậm thanh toán là 359.923.906₫ (Ba trăm năm mươi chín triệu chín trăm hai mươi ba nghìn chín trăm lẻ sáu đồng).

Xét thấy ông P có ký kết hợp đồng tín dụng và đã nhận đủ số tiền vay từ Ngân hàng nhưng không tiếp tục trả số tiền còn nợ là vi phạm nghĩa vụ đã cam kết. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q buộc ông P phải trả số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 26/7/2024 là 1.134.607.968đ (Một tỷ một trăm ba mươi bốn triệu sáu trăm lẻ bảy nghìn chín trăm sáu mươi tám đồng), cùng với số tiền lãi phát sinh đến khi bị đơn hoàn tất nghĩa vụ thanh toán là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

Ngân hàng yêu cầu bị đơn phải thanh toán một lần, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ tháng 9/2021. cho đến nay, bị đơn chưa tiếp tục thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho nguyên đơn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, do đó yêu cầu đề nghị bị đơn trả hết số tiền một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận.

Xét thấy tại Điều 2 của Hợp đồng tín dụng số: 5460822.20 có quy định về tài sản bảo đảm là xe ô tô BKS 51H-760.73. Ngoài ra, Ngân hàng V1 và ông P còn ký kết Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số: 6696853.23 ngày 29/6/2020. Do đó, mặc dù nguyên đơn không khởi kiện yêu cầu giải quyết tài sản bảo đảm. Nhưng xét thấy đây là một phần không thể tách rời của Hợp đồng tín dụng số 5460822.20, do đó, để đảm bảo giải quyết toàn diện vụ án, phải xem xét cả phần tài sản bảo đảm.

Xét Điều 2 của hợp đồng tín dụng số: 5460822.20 và Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số: 6696853.23 ký ngày 29/6/2020 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế và ông P, được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm đúng theo quy định tại Điêu 298 Bộ luật Dân sự 2015 và Nghị định 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 của Chính phủ, do đó, có hiệu lực thi hành. Căn cứ quy định tại Điều 299 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp bị đơn ông P vi phạm nghĩa vụ thanh toán, không trả được nợ hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế được yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.

Bởi các lẽ trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 298, Điều 299, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 90, Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng 2010, chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 07/01/2022, Ngân hàng Thương mại cổ phần Q yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết buộc ông Lê Hữu P trả số tiền gốc và lãi đã vay theo “Hợp đồng tín dụng” mà ông P đã ký, đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng dân sự vay tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Bị đơn ông Lê Hữu P có nơi cư trú tại xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Lê Hữu P đã được Toà án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà, giấy triệu tập đương sự đến tham gia phiên tòa nhưng tại phiên toà hôm nay vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[3] Về thời hiệu khởi kiện: Các đương sự không yêu cầu Toà án áp dụng thời hiệu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[4.1] Xét Ngân hàng Thương mại cổ phần Q yêu cầu ông Lê Hữu P trả số tiền tổng cộng tiền gốc và lãi suất là 1.134.607.968đ (Một tỷ một trăm ba mươi bốn triệu sáu trăm lẻ bảy nghìn chín trăm sáu mươi tám đồng) của khoản vay theo Hợp đồng tín dụng (mua ô tô tiêu dùng) số 5460822.20 ngày 29/6/2020 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 5460822(1).20 ngày 30/6/2020. Ngoài ra, ông P còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự có mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Ngày 29/6/2020, ông Lê Hữu PNgân hàng Thương mại cổ phần Q ký Hợp đồng tín dụng (mua ô tô tiêu dùng) ngày 29/6/2020 để vay tiên, thời hạn vay 72 tháng, lãi suất 9,2%/năm.

Khi ký Hợp đồng tín dụng nêu trên, các bên hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên được điều chỉnh phù hợp với Luật các tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động cho vay tiêu dùng.

Thực hiện hợp đồng tín dụng, ông P đã nhận đủ số tiền vay nhưng chỉ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q chỉ được một khoản tiền. Sau đó, ông P không thanh toán bất cứ khoản nào, mặc dù Ngân hàng Thương mại cổ phần Q đã nhắc nhở nhiều lần ông P vẫn không thực hiện.

Xét thấy, ông P đã không thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q trong khoảng thời gian dài kể từ ngày 11/9/2021 cho đến nay. Ông P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo Điều 465 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Do đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q yêu cầu ông P trả số tiền gốc 716.400.000₫ (Bảy trăm mười sáu triệu bốn trăm nghìn đồng), lãi tạm tính từ ngày 10/9/2021 đến ngày 26/7/2024 gồm: lãi trong hạn 58.284.062đ (Năm mươi tám triệu hai trăm tám mươi bốn nghìn không trăm sáu mươi hai đồng); tính từ ngày 15/7/2020 đến ngày 26/7/2024 thì lãi quá hạn là 345.368.052₫ (Ba trăm bốn mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi tám nghìn không trăm năm mươi hai đồng) và lãi chậm thanh toán là 14.555.854₫ (Mười bốn triệu năm trăm năm mươi lăm nghìn tám trăm năm mươi bốn đồng); tổng cộng 1.134.607.968đ (Một tỷ một trăm ba mươi bốn triệu sáu trăm lẻ bảy nghìn chín trăm sáu mươi tám đồng), ngoài ra, ông P còn phải chịu lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong tiền vay là có cở sở chấp nhận.

[4.2] Xét tính hiệu lực của Hợp đồng thế chấp:

Khi ký Hợp đồng tín dụng (mua ô tô tiêu dùng) ngày 29/6/2020 giữa Ngân hàng Q và ông Lê Hữu P để vay số tiền 890.000.000đ (Tám trăm chín mươi triệu đồng), ông P có ký Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải ngày 29/6/2020, tài sản thế chấp là 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu PEUGEOT, số khung RN2P45VA6LC116782, số máy 577669710UF205G02, biển số 51H-760.73. Tuy nhiên, nguyên đơn xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết Hợp đồng thế chấp này. Xét thấy, Hợp đồng thế chấp là một phần không thể tách rời của Hợp đồng tín dụng, do đó khi xem xét Hợp đồng tín dụng Hội đồng xét xử cần xem xét cả Hợp đồng thế chấp trong vụ kiện này không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nhằm đảm bảo vụ án được giải quyết toàn diện.

Tại Biên bản làm việc ngày 22/3/2024, Tòa án xét thấy cần thiết phải tiến hành thủ tục xem xét, thẩm định tại chỗ hiện trạng chiếc xe ô tô biển số 51H-760.73 nêu trên. Nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến không yêu cầu Tòa án tiến hành thủ tục, xem xét, thẩm định tại chỗ hiện trạng chiếc xe ô tô biển số 51H-760.73 nêu trên vì Ngân hàng đã liên lạc nhiều lần mà P trốn tránh nghĩa vụ. Chiếc xe ô tô biển số 51H-760.73 do ông P quản lý, sử dụng nên Ngân hàng không xác định được chiếc xe đang ở đâu vì vậy việc tiến hành thủ tục xem xét, thẩm định tại chỗ hiện trạng chiếc xe ô tô biển số 51H-760.73 trên thực tế không đạt được kết quả. Do đó, Tòa án không thể thực hiện việc xem xét, thẩm định tại chỗ đối với chiếc xe ô tô biển số 51H-760.73.

Xét thấy, Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải ngày 29/6/2020 là để đảm bảo cho khoản vay của Hợp đồng tín dụng (mua ô tô tiêu dùng) ngày 29/6/2020. Như vậy, Hợp đồng thế chấp có hiệu lực từ thời điểm giao kết và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo đúng cam kết. Trường hợp ông P không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô nhãn hiệu PEUGEOT, biển số 51H-760.73, số khu RN2P45VA6LC116782, số máy: 57766970UF205G02, màu sơn cam, số loại 3008, chủ sở hữu Lê Hữu P.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 323, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 3, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, các điều 7, 8, 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Xét ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên Tòa về việc giải quyết vụ án là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q nên bị đơn ông P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm 46.038.239₫ (Bốn mươi sáu triệu không trăm ba mươi tám nghìn hai trăm ba mươi chín đồng) theo quy định là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào khoản 2 Điều 3, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
  • - Căn cứ các điều 299, 317, 318, 323, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật thi hành án dân sự;
  • - Căn cứ vào Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[1]. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q, buộc ông Lê Hữu P có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q tiền vay của Hợp đồng tín dụng (mua ô tô tiêu dùng) số 5460822.20 ngày 29/6/2020 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 5460822(1).20 ngày 30/6/2020 với số tiền gốc là 716.400.000đ (Bảy trăm mười sáu triệu bốn trăm nghìn đồng), lãi trong hạn 58.284.062đ (Năm mươi tám triệu hai trăm tám mươi bốn nghìn không trăm sáu mươi hai đồng), lãi quá hạn là 345.368.052đ (Ba trăm bốn mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi tám nghìn không trăm năm mươi hai đồng) và lãi chậm thanh toán là 14.555.854₫ (Mười bốn triệu năm trăm năm mươi lăm nghìn tám trăm năm mươi bốn đồng). tổng cộng là 1.134.607.968₫ (Một tỷ một trăm ba mươi bốn triệu sáu trăm lẻ bảy nghìn chín trăm sáu mươi tám đồng), trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông P còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng ngày 29/6/2020 đã ký giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Q và ông Lê Hữu P. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.

[2] Trong trường hợp ông P không thanh toán hoặc thanh toán không đúng nghĩa vụ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô nhãn hiệu PEUGEOT, biển số 51H-760.73, số khu RN2P45VA6LC116782, số máy: 57766970UF205G02, màu sơn cam, số loại 3008, chủ sở hữu Lê Hữu P theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải ngày 29/6/2020.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 46.038.239₫ (Bốn mươi sáu triệu không trăm ba mươi tám nghìn hai trăm ba mươi chín đồng) buộc ông P phải chịu.

Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 16.955.821₫ (Mười sáu triệu chín trăm năm mươi lăm nghìn tám trăm hai mươi mốt đồng) theo biên lai số 0020127 ngày 08/11/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi.

[4] Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

[5] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H.CC;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADSH.CC
  • - Lưu: hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Túy Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 491/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 491/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger