Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 491/2024/HS-ST

Ngày: 16-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Tam;
  2. Ông Phan Anh Dũng.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Sỹ Linh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường số 3 trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 503/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 500/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

1. Võ Thành L.

Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1989, tại Đồng Nai. Nơi cư trú: Nhà không số thuộc tổ A, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Phụ hồ. Chức vụ (Đảng, chính quyền): Không. Trình độ học vấn: Lớp 05/12. Họ tên cha: Võ Văn L1, sinh năm 1961 (đã chết). Họ tên mẹ: Trương Thị M, sinh năm 1965 (còn sống). Gia đình có 05 anh em. Bị cáo là con thứ 3 và chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 20/4/2024, chuyển tạm giam theo lệnh số 817/LTG của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố B.

2. Lê Quốc B.

Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1987, tại Đồng Nai. Nơi cư trú: Tổ A, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: làm rẫy.

Chức vụ (Đảng, chính quyền): Không. Trình độ học vấn: Lớp 08/12. Họ tên cha: Lê Quốc S, không rõ năm sinh, hiện bỏ nhà đi đâu không rõ. Họ tên mẹ: Lê Thị H, sinh năm 1954 (còn sống). Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ 4 và chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 20/4/2024, chuyển tạm giam theo lệnh số 818/LTG của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố B.

3. Phạm Tiến S1.

Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1985, tại Đồng Nai. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. Nơi ở hiện nay: Ấp D, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Thiên Chúa. Nghề nghiệp: Phụ hồ. Chức vụ (Đảng, chính quyền): Không. Trình độ học vấn: Lớp 07/12. Họ tên cha: Phạm Tiến D, sinh năm 1952 (đã chết). Họ tên mẹ: Đồng Thị C, sinh năm 1961 (đã chết). Bị cáo là con duy nhất trong gia đình và chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 20/4/2024, chuyển tạm giam theo lệnh số 819/LTG của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh Đ.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung vụ án:

Võ Thành L, Lê Quốc B và Phạm Tiến S1 là các đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý.

Vào khoảng 07 giờ ngày 18/4/2024, L nhờ S1 và B cùng đến phụ giúp sửa chữa lại nhà của L tại địa chỉ nhà không số thuộc tổ A, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Để cảm ơn S1 và B, L rủ cả hai sử dụng ma tuý. L, B và S1 bàn bạc và thống nhất L bỏ ra 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) đưa cho B đi mua ma tuý về để cả ba người cùng sử dụng tại nhà L, tất cả đồng ý.

B cầm số tiền 200.000đ và điều khiển xe mô tô 60V8 - 2057 (xe của L) đi đến khu vực nghĩa trang phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mua của một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) 01 gói ma túy tổng hợp với giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) và được cho thêm 01 nỏ thuỷ tinh để sử dụng ma tuý.

Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, B cầm theo 01 gói ma túy tổng hợp (đá) cùng 01 nỏ thủy tinh nêu trên về đến nhà L, đi vào phòng ngủ của L để cả ba sử dụng ma tuý. B đưa nỏ thủy tinh cho L để L cắm vào chai nước bằng nhựa có cắm sẵn ống hút làm công cụ sử dụng ma túy. S1 lấy 02 bật lửa (hộp quẹt ga) ở trong túi quần của S1 ra tháo gỡ đầu của 01 cái bật lửa để làm “tim” chế ra dụng cụ để đốt (nấu) ma túy. Sau khi chuẩn bị xong bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, B lấy gói ma túy vừa mua đổ vào nỏ thủy tinh rồi dùng 02 bật lửa do S1 tự chế nêu trên “nấu” ma túy (đốt nóng để ma túy hóa hơi) rồi B, L và S1 thay nhau sử dụng bằng cách hút trực tiếp bằng miệng.

Đến khoảng 09 giờ cùng ngày thì L, B và S1 sử dụng hết số ma túy trên, L cất bộ dụng cụ sử dụng ma túy vào góc tường phòng ngủ của mình rồi cùng S1 đi sửa nhà còn B đi về nhà.

Khoảng 19 giờ cùng ngày, B tiếp tục quay lại nhà L chơi. Đến khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày, khi S1, L và B đang có mặt tại nhà L thì Công an phường P, thành phố B kiểm tra hành chính nhà L thu giữ bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa có gắn ống hút và nỏ bằng thủy tinh, 02 hộp quẹt, 01 cái kéo được để ở dưới nền gạch trong phòng ngủ của L nên đưa L, B và S1 về làm việc lập hồ sơ, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, Võ Thành L, Lê Quốc B và Phạm Tiến S1 đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

(Biên bản kiểm tra hành chính và thu giữ tang vật: bút lục số 01-04; Kết quả test ma tuý của các bị cáo: bút lục số 101, 129, 149; Lời khai bị cáo: bút lục số 108-121, 131-141, 151-164; Biên bản nhận dạng, đối chất: Bút lục 10-18).

2. Vật chứng của vụ án:

  • 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa và 01 nỏ thuỷ tinh còn dính ma tuý.
  • 02 bật lửa (hộp quẹt ga) trong đó có 01 bật lửa đã được gỡ bỏ phần đầu dùng để nấu ma tuý.
  • 01 cây kéo dùng vào việc sử dụng ma tuý.
  • 01 xe mô tô biển số 60V8 – 2057, số máy 5055826 (không có số khung) của Võ Thành L giao cho Lê Quốc B đi mua ma tuý. L khai mượn xe mô tô trên của 01 đối tượng (chưa rõ lai lịch), tra cứu số máy tại Phòng Cảnh sát giao thông không có thông tin về số máy nêu trên. Kết quả tra cứu biển số xe 60V8-2057 xác định là xe của anh Lê Văn C1 (sinh năm 1968, ngụ tại tổ C, ấp D, xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai), anh C1 đang quản lý và sử dụng xe mô tô trên. Do chưa xác minh được nguồn gốc xe mô tô đã thu giữ nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau.

(Bút lục 03-04, 166-167)

3. Kết luận giám định:

Tại Kết luận giám định số 612/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận:

- Mẫu chất màu đen bám dính trong 01 nỏ thuỷ tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng (Bút lục số: 20-21)

- Tại biên bản xét nghiệm chất ma tuý đối với Võ Thành L, Lê Quốc B và Phạm Tiến S1 thể hiện các bị cáo đều dương tính với ma tuý Methamphetamine (Bút lục số 101, 129, 149).

4. Các vấn đề khác:

Đối với đối tượng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đã bán ma tuý cho Lê Quốc B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

5. Truy tố của Viện kiểm sát:

- Bản cáo trạng số: 493/CT-VKSBH-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Võ Thành L, Lê Quốc B và Phạm Tiến S1, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Võ Thành L từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù;
  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quốc B từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù;
  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Tiến S1 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù;

Xử lý vật chứng và buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định.

6. Tại phiên tòa, các bị cáo trình bày:

các bị cáo thống nhất với hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến gì đối với kết luận giám định.

7. Các bị cáo nói lời sau cùng:

Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu có tại hồ sơ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản kiểm tra hành chính và thu giữ tang vật, kết quả test ma túy của các bị cáo, Bản kết luận giám định, lời khai của các bị cáo, biên bản nhận dạng, đối chất. Đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19 giờ ngày 18/4/2024, tại nhà không số thuộc tổ A, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Võ Thành L, Lê Quốc B và Phạm Tiến S1 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, L, B và S1 đang có mặt tại địa chỉ nêu trên thì bị Công an phường P, thành phố B kiểm tra, phát hiện bắt giữ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý. Theo Kết luận giám định số 612/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, mẫu chất màu đen bám dính trong 01 nỏ thuỷ tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine.

Như vậy, các bị cáo Võ Thành L, Lê Quốc B, Phạm Tiến S1 đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục các chất cấm theo quy định của Chính phủ.

Hành vi của bị cáo Võ Thành L, Lê Quốc B, Phạm Tiến S1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố và viện dẫn.

Các bị cáo phạm tội đồng phạm giản đơn, mỗi bị cáo đóng vai trò khác nhau:

  • + Võ Thành L là người rủ rê, cung cấp tiền và phương tiện để Lê Quốc B đi mua ma túy, sử dụng nhà làm địa điểm sử dụng ma túy, nên được xác định là người thực hiện tích cực hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
  • + Lê Quốc B là người đi mua ma tuý về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
  • + Phạm Tiến S1 là người chuẩn bị công cụ để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • + Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
  • + Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Võ Thành L và Lê Quốc B chưa có tiền án, tiền sự là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự, trị an và an ninh xã hội, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước Việt Nam về đấu tranh phòng ngừa và loại bỏ ma túy ra khỏi cuộc sống xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm mục đích răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Đồng thời, Hội đồng xét xử cũng xem xét về vai trò của các bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo để quyết định hình phạt nhằm thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

[3] Về các vấn đề khác:

Đối với đối tượng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đã bán ma tuý cho Lê Quốc B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp.

[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định; 01 chai nhựa và 01 ống hút bằng nhựa và 01 nỏ thuỷ tinh để sử dụng ma tuý; 02 bật lửa (hộp quẹt ga) trong đó có 01 bật lửa đã được gỡ bỏ phần đầu dùng để nấu ma tuý; 01 cây kéo dùng vào việc sử dụng ma tuý.

(Tất cả các vật chứng và số tiền nêu trên được thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 (đối với các bị cáo Võ Thành L, Lê Quốc B), Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều 106, 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố các bị cáo Võ Thành L, Lê Quốc B và Phạm Tiến S1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  • - Xử phạt Võ Thành L 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ 20-4-2024.
  • - Xử phạt Lê Quốc B 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ 20-4-2024.
  • - Xử phạt Phạm Tiến S1 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ 20-4-2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định; 01 chai nhựa và 01 ống hút bằng nhựa và 01 nỏ thuỷ tinh để sử dụng ma tuý; 02 bật lửa (hộp quẹt ga) trong đó có 01 bật lửa đã được gỡ bỏ phần đầu dùng để nấu ma tuý; 01 cây kéo dùng vào việc sử dụng ma tuý.

(Tất cả các vật chứng và số tiền nêu trên được thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Các bị cáo Võ Thành L, Lê Quốc B và Phạm Tiến S1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí.

4. Quyền kháng cáo:

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự – Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phú

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các Hội thẩm nhân dân

 

Thẩm phán

 

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 491/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 491/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Thành Lộc + đồng phạm Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger