Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 491/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06-5-2024

“V/v tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Khanh

Bà Bùi Diệu Huệ

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trâm

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tham gia phiên toà:

bà Từ Ngọc Hòa - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1309/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 81/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17/4/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

Bà Nguyễn Thị Mỹ D

sinh năm 1990; Địa chỉ: số B ấp B, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn:

Ông Nguyễn Thanh T

sinh năm: 1986; Địa chỉ: số C M, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn ly hôn ngày 26/10/2023, bản tự khai, biên bản hòa giải, bà Nguyễn Thị Mỹ D trình bày: Bà và ông T chung sống với nhau vào năm 2016 đã đăng ký kết hôn (theo giấy chứng nhận kết hôn số 147 do Ủy ban nhân dân phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25/11/2016). Năm 2019, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Mặc dù, vợ chồng đã cố gắng trao đổi, hàn gắn nhưng không giải quyết được. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, khả năng hàn gắn đoàn tụ không có nên bà xin ly hôn ông T để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng bà có 01 con chung là Nguyễn Bảo U, sinh ngày 13/02/2019. Ly hôn, bà xin nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không có.

Về nợ chung: không có.

Ông Nguyễn Thanh T trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị Mỹ D kết hôn vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Nay bà D xin ly hôn, ông đồng ý.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng bà có 01 con chung là Nguyễn Bảo U, sinh ngày 13/02/2019. Ly hôn, ông đồng ý giao con cho bà D nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không có.

Về nợ chung: không có.

Tại phiên tòa hôm nay, phía nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nhưng vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn ông T; về con chung: xin nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; Tài sản chung: không có; Về nợ chung: không có. Phía bị đơn đồng ý ly hôn, giao con và không cấp dưỡng nuôi con nhưng có đơn xin vắng mặt.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân:

Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp.

Về nội dung: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thẩm quyền giải quyết: bà D có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn ông T. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. [2] Về tố tụng:

    Do Toà án tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

    Xét, bà D và ông T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt tại các phiên tòa nên theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà D và ông T.

  3. [3] Về nội dung:

    Nguyễn Thị Mỹ D và ông Nguyễn Thanh T đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 147 do Ủy ban nhân dân phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25/11/2016. Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn thì đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

    [3.1] Xét yêu cầu của bà D về việc xin ly hôn ông T vì lý do tình cảm không còn và mong muốn ổn định cuộc sống. Về phía ông T xác nhận vợ chồng bất đồng quan điểm sống và đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, nên ông đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Xét thấy mâu thuẫn tình cảm giữa bà D và ông T đã thật sự trầm trọng, hai bên cũng thống nhất thuận tình ly hôn. Căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà D.

    [3.2] Xét về con chung: bà D khai trong quá trình chung sống vợ chồng ông bà có 01 con chung là Nguyễn Bảo U, sinh ngày 13/02/2019. Hội đồng xét xử xét thấy, bà D và ông T cùng thống nhất giao cháu U cho bà D nuôi dưỡng, điều này phù hợp nên chấp nhận.

    [3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: bà D và ông T cùng có lời khai thống nhất, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử ghi nhận.

    [3.4] Về tài sản chung: bà D và ông T khai không có; Về nợ chung: bà D và ông T khai không có và không tranh chấp do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

    Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát; chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  4. [4] Về án phí dân sự sơ thẩm: bà D nộp tiền án phí theo quy định 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 21; Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Khoản 1 Điều 228, khoản 3 Điều 228, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 56,58,59, 81, 82, 83, 84, 110 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ D:

    -Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T.

    - Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Bảo U, sinh ngày 13/02/2019 cho bà bà D trực tiếp nuôi dưỡng.

    Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông T do bà D không yêu cầu.

    Ông T có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.

    Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Vì lợi ích của con chung, bà D và ông T đều có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp do yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

    -Về tài sản chung: không có.

    - Về nợ chung: không có.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà D phải nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) được cấn trừ vào số tiền đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0026893 ngày 20/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Về quyền kháng cáo: bà D và ông T có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký và đóng dấu)

Nguyễn Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 491/2024/HNGĐ-ST ngày 06/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 491/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyen thi My D xin ly hôn Nguyen Thanh Trung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger