Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 491/2025/DS-PT

Ngày: 16/12/2025

Về việc tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Kiều

Các Thẩm phán:

Ông Đỗ Cao Khánh

Bà Đinh Cẩm Đào

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Duy Linh, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Từ Thanh Thùy- Kiểm sát viên.

Trong các ngày 10 và 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 403/2025/TLPT-DS ngày 22 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 47/2025/DS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 448/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Lê Văn Ú, sinh năm 1961; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn Ú: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (văn bản ủy quyền ngày 21/01/2025) (có mặt).

  3. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn:

  1. Ông Võ Quốc K, sinh năm 1973; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của ông Võ Quốc K: Bà Lưu Hồng C, sinh năm 1974; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (văn bản ủy quyền ngày 18/12/2024) (có mặt).

  3. Bà Lưu Hồng C, sinh năm 1974; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (có mặt).

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Võ Hồng K1 – Luật sư thuộc Chi nhánh Văn phòng L1 – Luật sư Võ Hồng K1 – Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lưu Tấn S, sinh năm 1972; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
  2. Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Cà Mau.
  3. Địa chỉ trụ sở: Ấp V, xã T, tỉnh Cà Mau.

    Người đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân xã T: Ông Từ Văn L – Chức vụ: Chủ tịch.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông Từ Văn L: Ông Hàng Phong V – Công chức Phòng Kinh tế (văn bản ủy quyền ngày 03/12/2025).

  4. Anh Võ Quốc D, sinh năm 2001; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (không triệu tập)
  5. Chị Võ Tường V1, sinh năm 2005; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (không triệu tập)

- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T là nguyên đơn

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Nguyễn Thị T trình bày:

Năm 1961, cha, mẹ ông Lê Văn Ú là ông Lê Văn Đ và bà Cao Thị B được Nhà nước tạm giao phần đất tại ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau với diện tích 43.000m². Năm 1993, Sở Thủy lợi tỉnh M làm cống Ông B1, đến năm 1994 ông Ú được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích là 21.160m². Năm 2001, ông Ú chuyển nhượng lại cho ông Võ Trung T1, ông Lưu Tấn S mỗi người 01 phần đất có chiều ngang 4m, chiều dài 12m. Cùng năm, đại diện Ủy ban nhân dân xã T đến nhà bàn bạc với vợ chồng ông Ú cần khoảng 160m² trong quyền sử dụng đất của ông Ú để xây dựng trụ sở Ủy ban xã T mới, trong đó có phần ông Ú đã chuyển nhượng cho ông T1, ông S tổng cộng là 96m². Bà và ông Ú có ý kiến nếu hai hộ này thống nhất thì Ủy ban xây dựng, còn thừa lại 64m² gia đình ông bà hiến cho Ủy ban để xây dựng trụ sở. Sau khi bàn bạc đã đi đến thống nhất và có biên bản ngày 04/11/2001. Đến ngày 22/5/2003, ông S đắp nền trên phần đất của ông Ú mà Sở Thủy lợi làm con đê dẫn nước, ông Ú ngăn không cho đắp nền thì Ủy ban xã cho rằng đất này của Thủy lợi cho xã nên Ủy ban tạm giao cho ông S đắp nền cất nhà, khi nào cơ quan có thẩm quyền xác định phần đất này là của ông Ú thì Ủy ban có trách nhiệm trả mặt bằng lại cho gia đình ông Ú. Sau sự việc đó ông Ú đã yêu cầu trong thời gian dài nhưng chưa được giải quyết. Ngày 11/5/2018, Ủy ban huyện Đ ban hành quyết định thu hồi Giấy quyền sử dụng đất cấp cho ông Ú. Đến năm 2022, ông Ú được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Ú tiếp tục gửi đơn yêu cầu đến Ủy ban xã T đòi lại phần đất mà Uỷ ban giao cho ông S. Hiện nay, phần đất này do ông K và bà C đang quản lý, sử dụng. Ngày 12/5/2024 Chủ tịch Ủy ban xã T làm việc có biên bản thể hiện sẽ bàn bạc với gia đình ông K để trả lại phần đất nhưng không có thời gian cụ thể.

Qua nhiều lần yêu cầu xã hòa giải nhưng không thành nên ông bà khởi kiện yêu cầu ông Võ Quốc K và bà Lưu Hồng C phải trả lại phần đất diện tích khoảng hơn 60m² nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Ú đứng tên tọa lạc ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau.

Bà Lưu Hồng C trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là do anh ruột bà là ông Lưu Tấn S nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn Ú và bà Nguyễn Thị T ngày 28/12/2000 ngang 4m dài 12m với giá 16 chỉ vàng 24K. Việc sang nhượng có lập văn bản, hai bên cùng ký tên, bên mua nhận đất và bên bán đã nhận đủ vàng. Ngày 06/6/2003 ông S cho vợ chồng bà có lập “Giấy chuyển nhượng nhà đất”. Ông bà cất nhà ở trên phần đất từ năm 2003; đến ngày 24/4/2015 xây dựng lại nhà, khi xây dựng được cấp Giấy phép xây dựng và đã xây nhà ở ổn định trên 21 năm. Ông Ú cũng ở cặp ranh nhà vợ chồng bà qua không có tranh chấp. Vợ chồng bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ông Lưu Tấn S trình bày:

Phần đất tranh chấp do ông nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn Ú chiều ngang 4m chiều dài 12m với giá 16 chỉ vàng 24K, vị trí đất cặp Ủy ban nhân dân xã chứ không nằm trong khu vực cơ quan xã, có làm giấy tay, sau đó ông cho em gái là Lưu Hồng C cất nhà để ở. Phần đất ông mua cặp đất ông T1, sau đó ông T1 đã được Ủy ban hoán đổi vị trí đất khác, còn phần đất ông mua từ trước đến nay không thay đổi vị trí.

Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân xã T trình bày:

Sự việc tranh chấp giữa hai bên đã được Ủy ban hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Trước đây khi có chủ trương xây dựng trụ sở mới thì Ủy ban có bàn bạc với các hộ dân, có biên bản thể hiện nhưng hiện nay phần lớn tài liệu không còn, chỉ còn biên bản ngày 02/11/2001. Phần đất của ông T1 trước kia đã được hoán đổi do có nhà, còn phần đất của ông S có chủ trương hoán đổi nhưng không có tài liệu thể hiện việc thực hiện và vị trí trước, sau khi hoán đổi, đó là do sơ xuất của Ủy ban. Ủy ban đã làm việc với những người lập biên bản ngày 02/11/2001 nhưng không ai xác định được vị trí đất của ông S. Từ trước đến nay giữa ông Ú, bà T và ông K, bà C không có tranh chấp. Ông K, bà C đã cất qua 02 xác nhà nhưng gia đình ông Ú không có yêu cầu gì. Năm 2015 khi ông K, bà C xây dựng lại nhà, ông Ú còn yêu cầu cất dịch về phía Ủy ban 01m để phần đất của ông Ú được vuông.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 47/2025/DS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau quyết định:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Ú, bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu ông Võ Quốc K và bà Lưu Hồng C phải trả lại phần đất diện tích theo đo đạc thực tế 55,8m² tọa lạc ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau được giới hạn bởi các điểm M1, M2, M3, M4, M5, M6, M1.
  2. (Kèm theo Mảnh đo đạc chỉnh lý thửa đất ngày 14/02/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ)

  3. Về án phí và chi phí tố tụng:
  4. - Ông Lê Văn Ú, bà Nguyễn Thị T được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

    - Ông Lê Văn Ú, bà Nguyễn Thị T phải chịu chi phí tố tụng 2.128.000 đồng (đã dự nộp và đối chiếu xong).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 18 tháng 8 năm 2025, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:

Việc ông Ú chuyển nhượng đất cho ông S là thực tế, do ông K, bà C đã ở ổn định trên đất hơn 20 năm nhưng nguyên đơn không có ý kiến. Do đó yêu cầu của nguyên đơn là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 47/2025/DS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Kháng cáo của bà Nguyễn Thị T được thực hiện trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung kháng cáo của bà Nguyễn Thị T, Hội đồng xét xử xét thấy:

Tại biên bản làm việc ngày 02/11/2001 có nội dung ông Ú đã chuyển nhượng cho ông T1, ông S 96m², phần còn lại 64m² ông Ú hiến cho Ủy ban xã để xây dựng trụ sở. Ngoài ra, ông Nguyễn Hồng Q là Trưởng ban quản lý chợ xác định phần đất của ông T1 nhận chuyển nhượng của ông Ú, ảnh hưởng đến xây trụ sở nên Ủy ban hoán đổi cho ông T1 vị trí đất khác, còn đất của ông K do ông K không đồng ý hoán đổi nên thống nhất còn lại bao nhiêu đất thì xây dựng bấy nhiêu, điều này phù hợp với các văn bản giải quyết của địa phương. Phần đất ông S nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Ú sau đó cho lại vợ chồng ông K, bà C sử dụng, không có thay đổi vị trí.

[2.1] Tại phiên tòa bà T cho rằng khi chuyển nhượng đất cho ông S là ở vị trí khác chứ không phải vị trí hiện tại; tuy nhiên căn cứ vào giấy mua bán đất giữa ông Ú với ông S mặc dù không thể hiện vị trí đất, nhưng trong giấy có nội dung “nếu sau này có giải tỏa thì ông S được quyền thục ra phía sau cất lại” từ đó cho thấy nếu đất ở vị trí phía sau Ủy ban thì trong giấy mua bán giữa các bên không thể có nội dung ông S được quyền thục ra phía sau, mà có thể khẳng định phần đất chuyển nhượng nằm ngoài mặt đường giáp với công trình cống Ông B1. Do đó trình bày của bà T cho rằng phần đất vợ chồng bà chuyển nhượng cho ông S ở phía sau là không có cơ sở.

[2.2] Bà T, ông Ú khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông K, bà C trả đất là căn cứ vào phần đất nằm trong quyền sử dụng đất do ông Ú đứng tên; bà C xác định do diện tích đất không đủ tách thửa nên chưa tách quyền sử dụng đất được; Ủy ban trình bày do trước đây có thu hồi đất để làm cống Ông B1, sau khi làm cống phần đất còn lại giải quyết trả lại cho các chủ đất cũ nên khi cấp lại là cấp theo diện tích còn lại, không có tách phần ông Ú đã chuyển nhượng cho ông S và phần đất của ông S không có sự hoán đổi như phần đất của ông T1.

[2.3] Ngoài ra, tại báo cáo ngày 10/10/2003 của Ủy ban xã T, huyện Đ xác định phần đất ông S không liên quan đến đất của ông Ú mà thuộc về phần đất thủy lợi giao cho Ủy ban xã quản lý.

[2.4] Tại phiên tòa phúc thẩm bà Nguyễn Thị T cung cấp thêm tài liệu chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, nhưng tài liệu, chứng cứ không chứng minh được nội dung theo yêu cầu kháng cáo, không làm thay đổi các tình tiết đã được cấp sơ thẩm xem xét. Từ những phân tích trên xét thấy cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ú là phù hợp.

[2.5] Đối với phần đất tranh chấp hiện nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng của ông Ú, tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận cho ông Ú, đất do vợ chồng ông K, bà C đang quản lý sử dụng. Do đó cần phải thu hồi một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Ú đối với diện tích đã chuyển nhượng cho ông S trước đây, và hiện nay vợ chồng ông K, bà C sử dụng cho phù hợp với quy định.

[3] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp nên được chấp nhận.

[4] Về chi phí tố tụng: Ông Lê Văn Ú, bà Nguyễn Thị T phải chịu chi phí tố tụng 2.128.000 đồng (đã dự nộp và đối chiếu xong).

[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn Ú, bà Nguyễn Thị T được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 47/2025/DS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Ú, bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu ông Võ Quốc K và bà Lưu Hồng C giao trả quyền sử dụng đất diện tích 55,8m², tọa lạc ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau. (Được giới hạn bởi các điểm M1, M2, M3, M4, M5, M6, M1).
  2. (Kèm theo Mảnh đo đạc chỉnh lý thửa đất ngày 14/02/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ)

  3. Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi phần đất có diện tích 55,8m², tọa lạc ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau. (Được giới hạn bởi các điểm M1, M2, M3, M4, M5, M6, M1), trong Giấy chứng nhận của ông Lê Văn Ú theo quy định của pháp luật.
  4. Về chi phí tố tụng: Ông Lê Văn Ú, bà Nguyễn Thị T phải chịu chi phí tố tụng 2.128.000 đồng (đã nộp và đối chiếu xong).
  5. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí sơ và phúc thẩm cho Ông Lê Văn Ú, bà Nguyễn Thị T
  6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau;
  • - Phòng THADS khu vực 4 – Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Lệ Kiều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 491/2025/DS-PT ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 491/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger