Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 491/2024/HC-PT

Ngày: 06 - 6 - 2024

V/v Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ và quyết định giải quyết khiếu nại.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Nhựt Bình
Các Thẩm phán: Ông Phan Tô Ngọc
Bà Hồ Thị Thanh Thúy

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Phú Cường - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 355/2021/TLPT-HC ngày 21 tháng 6 năm 2021 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ và quyết định giải quyết khiếu nại”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 52/2020/HC-ST ngày 21 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 848/2024/QĐPT-HC ngày 17 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: ông Mai Gia T, sinh năm 1971 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố F, thị trấn A, huyện P, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Trần Văn A, sinh năm 1982 (xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số A, đường N, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Người bị kiện:

1/Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang;

2/Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Nguyễn Lê Quốc T1, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P (xin xét xử vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Số D, đường C, khu phố B, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người bị kiện: Ông Trần Quang L – Phó trưởng phòng Phòng Tài nguyên và môi trường thành phố P (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Mai Thị T2, sinh năm 1976 (vắng mặt);

Địa chỉ: Số D, đường N, thị trấn A, huyện P, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: ông Trần Văn A, sinh năm 1982 (xin xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Số A, đường N, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Người kháng cáo: Người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ kiện, người khởi kiện và người đại diện ông Trần Văn A trình bày:

Để thực hiện dự án “Cáp treo và quần thể vui chơi giải trí biển H - P tại thị trấn A, xã H, huyện P, tỉnh Kiên Giang”, Ngày 23/12/2016 Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) ban hành Quyết định số 7664/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của ông Mai Gia T với diện tích 2.028,10m² tọa lạc tại khu phố F, thị trấn A, huyện P, tỉnh Kiên Giang.

Ngày 30/12/2016, Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) ban hành Quyết định số 9018/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho ông Mai Gia T đối với diện tích đất bị thu hồi 2.028,10m² với số tiền là 0 đồng.

Ông T không đồng ý nên đã làm đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) để yêu cầu bồi thường, hỗ trợ diện tích đất 2.028,10m² và bồi thường cây trồng, vật kiến trúc cho ông.

Ngày 19/9/2019 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) ban hành Quyết định số 4187/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Mai Gia T, với nội dung công nhận bồi thường, hỗ trợ phần diện tích đất: 1.232,8m² nằm trong diện tích 2.028,10m² và bồi thường cây trồng, vật kiến trúc nhưng không công nhận, bồi thường, hỗ trợ phần diện tích đất còn lại 795,3m², vì cho rằng diện tích đất này sử dụng sau ngày 01/07/2004.

Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P với nội dung không công nhận bồi thường, hỗ trợ cho ông đối với phần diện tích đất còn lại 795,3m² là không đúng theo quy định của pháp luật. Bởi lẽ: Diện tích đất 2.028,10m² trong đó có phần diện tích đất 795,3m² không được bồi thường, hỗ trợ có nguồn gốc do ông Đặng L1 và bà Phạm Thị Đ khai phá năm 1979 (tổng diện tích mà ông L1 và bà Đ khai phá là 7.296m²). Vợ chồng ông L1 đã trồng Lúa, khoai mì và các loại rau ngắn ngày theo mùa vụ như là rau L2, B... trên đất. Đến năm 1988, do C phá lúa nên vợ chồng ông L1 chuyển sang trồng đào, dừa và xen canh các loại hoa màu ngắn ngày để có nguồn thức ăn và thu nhập cho gia đình.

Đến năm 1995 đất bị ngập phèn nên dừa, đào chết nên gia đình ông L1 tiếp tục cải tạo lại đất và trồng tràm trên toàn bộ diện tích 7.296m². Đến năm 2003, vườn tràm bị cháy nên gia đình ông L1 phải tiếp tục cải tạo đất và trồng lại tràm mới. Gia đình ông L1 quản lý, sử dụng đất ổn định, liên tục và không tranh chấp với ai cho đến khi nhà nước thu hồi đất. Cho nên diện tích đất nêu trên của gia đình ông đủ điều kiện được bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật.

Năm 2014, ông Đặng L1 chuyển nhượng bằng giấy tay cho gia đình ông Mai Gia T một phần đất nêu trên với diện tích 2000m² có xác nhận của ông Trịnh Văn T3; bà Nguyễn Thị H và ông Đặng Văn V là người làm chứng. Sau khi nhận chuyển nhượng, gia đình ông T trồng thêm một số cây, như: Tràm, S, D, C1, Mận trên đất, cất nhà ở và xây dựng thêm các công trình phụ như giếng nước, xây hàng rào, cây nước Gia đình ông tiếp tục quản lí sử dụng đất liên tục, ổn định, không tranh chấp với ai cho đến khi Nhà nước thu hồi đất.

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình ông, nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  1. Hủy một phần Quyết định số 4187/QĐ-UBND ngày 19/09/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) về việc giải quyết khiếu nại, cụ thể đối với phần nội dung không công nhận bồi thường, hỗ trợ diện tích đất 795.3m²;
  2. Hủy một phần Quyết định số: 9018/QĐ-UBND ngày 30/12/2016 của Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho ông Mai Gia T;
  3. Buộc Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích đất 795,3m² cho gia đình ông T theo đúng quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ kiện, người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện P; Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P và người đại diện ông Trần Chiến T4 trình bày ý kiến:

Nguồn gốc diện tích đất 2.028, 1m² ông Mai Gia T đang khiếu nại:

Năm 1979, ông Đặng L1 vào khu vực khu phố F, thị trấn A để phát dọn trồng màu, đến năm 1995 ông Đặng L1 bỏ đất trống, không canh tác, không sử dụng. Năm 2004, ông Đặng L1 vào vị trí đất trên để phát dọn trồng tràm bông vàng trên diện tích 4.320m² (trong tổng diện tích 7.296m²), còn lại diện tích 2.976m² ông Đặng L1 chưa sử dụng, việc sử dụng đất của ông Đặng L1 được ghi nhận tại biên bản làm việc Đoàn Thanh tra tỉnh ngày 28/6/2004. Ngày 24/12/2004, Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) ban hành Quyết định số 4381/QĐ-UBND về việc thu hồi đất diện tích 7.296m² của ông Đặng Lỳ . Sau đó ông L1 tiếp tục vào phát dọn trồng tràm bông vàng trên diện tích 2.976m² đất trên. Năm 2014, ông Đặng L1 làm giấy tay chuyển nhượng diện tích 2.028,10 m² cho ông Mai Gia T sử dụng cất nhà ở và trồng cây lâu năm (trong đó có diện tích 1.232,8m² nằm trong diện tích 4.320m² ông L1 sử dụng trước ngày 01/07/2004, theo biên bản làm việc của Đoàn Thanh tra tỉnh ngày 28/6/2004; diện tích 795,3m² nằm trong diện tích 2.976m² sử dụng sau 01/7/2004).

Ngày 23/12/2016, Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) ban hành Quyết định số 7578/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ và tái định cư dự án Cáp treo và quần thể khu vui chơi giải trí Hòn Thơm và Quyết định số 7664/QĐ-UBND về việc thu hồi đất diện tích 2.028,1m² của ông Mai Gia T.

Ngày 30/12/2016 Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) ban hành Quyết định số 9018/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ cho ông Mai Gia T với số tiền 0 đồng.

Ngày 19/9/2019, Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) ban hành Quyết định số 4187/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Mai Gia T, với nội dung: “Thống nhất bổ sung Quyết định số 9018/QĐ-UBND ngày 30/12/2016 của Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho ông Mai Gia T tại dự án Cáp treo và Quần thể vui chơi giải trí biển H - P tại thị trấn A, xã H, huyện P, tỉnh Kiên Giang. Nội dung bổ sung: Bổ sung bồi thường, hỗ trợ quyền sử dụng đất diện tích 1.232,8m² và cây trồng, vật kiến trúc cho ông Mai Gia T. Không thừa nhận nội dung- yêu cầu bồi thường quyền sử dụng đất diện tích 795,3m² và yêu cầu hỗ trợ 01 suất tái định cư của ông Mai Gia T.

Việc Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) không bồi thường quyền sử dụng đất diện tích 795,3m² cho ông Mai Gia T là phù hợp với quy định tại Điều 82 Luật Đất đai năm 2013, vì diện tích đất này ông L1, ông T sử dụng sau ngày 01/7/2004.

Việc Uỷ ban nhân dân huyện không xét bố trí nền tái định cư cho ông Mai Gia T là phù hợp theo quy định tại Khoản 3 Điều 19 quy định về bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (Ban hành kèm theo Quyết định số 22/2015/QĐ-UBND ngày 17/6/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh K), vì ông T đã có nhà ở tại khu phố F, thị trấn A, huyện P.

Từ những cơ sở nêu trên, khẳng định việc Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) ban hành quyết định số 4187/QĐ-UBND ngày 19/9/2019 về việc giải quyết khiếu nại của ông Mai Gia T là đúng quy định của pháp luật.

Đề nghị Tòa án không chấp nhận đơn khởi kiện với nội dung “hủy quyết định số 4187/QĐ-UBND ngày 19/9/2019 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện về việc giải quyết khiếu nại và Quyết định số 9018/QĐ-UBND ngày 30/12/2016, về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án cáp treo” của ông Mai Gia T.

Trong quá trình giải quyết vụ kiện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Mai Thị T2 và người đại diện theo ủy quyền ông Trần Văn A trình bày ý kiến: Về yêu cầu khởi kiện, nguồn gốc đất cũng như quá trình sử dụng đất của ông Mai Gia T, bà thống nhất với ý kiến của ông T, bà không bổ sung gì thêm.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 52/2020/HC-ST ngày 21 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Mai Gia T:

  • Hủy Quyết định số: 9018/QĐ-UBND ngày 30/12/2016 của Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho ông Mai Gia T
  • Hủy một phần Quyết định số: 4187/QĐ-UBND ngày 19/09/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) về việc giải quyết khiếu nại, cụ thể đối với phần nội dung không công nhận bồi thường, hỗ trợ diện tích đất 795.3m² cho ông Mai Gia T.
  • Buộc Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ cho ông Mai Gia T đối với diện tích đất bị thu hồi chưa bồi thường, hỗ trợ 795,3m² theo đúng quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/10/2020 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Người bị kiện xin xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người bị kiện là ông Trần Quang L phát biểu ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của người bị kiện sửa bản án của Tòa án cấp sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của ông Mai Gia T vì phần đất có diện tích 795,3m² nằm trong diện tích 2.976m² ông L1 chưa đủ điều kiện công nhận quyền sử dụng đất. Ông L1 chuyển nhượng diện tích đất này cho ông T bằng giấy tay. Do đó, ông T không đủ điều kiện để được bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi diện tích đất này.

Người khởi kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (đều do ông Trần Văn A đại diện theo ủy quyền) có văn bản xin xét xử vắng mặt và trình bày ý kiến không đồng ý kháng cáo của người bị kiện, yêu cầu Hội đồng xét xử bác kháng cáo và giữ nguyên bản án của Tòa án cấp sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trình bày quan điểm:

Về tố tụng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung, Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị kiện có kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo, và giữ nguyên Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tòa án đã triệu tập hợp lệ, người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, xin vắng mặt. Căn cứ Điều 225 Luật tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự này.

[2] Thực hiện dự án Cáp treo và quần thể vui chơi giải trí biển H - P, ngày 23/12/2016 Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) ban hành Quyết định số 7664/QĐ-UBND thu hồi diện tích 2.028,1m² tọa lạc tại Khu phố F, thị trấn A, huyện P, tỉnh Kiên Giang của ông Mai Gia T.

[3] Nguồn gốc phần đất trên do ông T nhận chuyển nhượng từ ông Đặng L1 theo Giấy sang nhượng đất ngày 02/12/2014 (bản viết tay). Phần đất trên nằm trong diện tích 7.296m² do ông Đặng L1 và bà Phạm Thị Đ khai phá năm 1979.

[4] Tại biên bản về việc đo đạc và xác định nguồn gốc đất của ông Đặng L1 do Đoàn Thanh tra tỉnh Kiên Giang lập ngày ngày 28/6/2004, ông L1 trình bày: “Thửa đất này tôi khai khẩn vào năm 1979 để trồng rẫy (khoai lang + mì + bắp...) cho đến năm 1995 thì nghỉ canh tác. Đến năm 2004, tôi tiến hành phát dọn lại để trồng tràm bông vàng. Trong quá trình sử dụng tôi không được cấp GCNQSD đất (1979 – 1995). Khi phát dọn lại tôi không xin phép chính quyền địa phương. Diện tích đo đạc thực tế hiện nay là 7.296m². Hiện trạng diện tích 4.320m² đất trồng tràm bông vàng, phần còn lại chưa phát dọn”.

[5] Ngày 24/12/2004, Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) ban hành Quyết định số 4381/QĐ-UBND thu hồi diện tích 7.296m² đất của ông L1 do có hành vi vi phạm lấn, chiếm đất đai trái phép do Nhà nước quản lý; Buộc ông L1 phải di dời các công trình xây dựng trên đất ra khỏi vị trí bị thu hồi. Ngày 30/8/2006, Tổ công tác thực hiện thu hồi đất theo quyết định xử lý sau thanh tra cũng đã lập Biên bản bàn giao đất bị thu hồi của ông Đặng L1 do lấn chiếm trái phép, và bàn giao thực địa thửa đất bị thu hồi cho Ủy ban nhân dân thị trấn A. Bà Phạm Thị Đ (vợ của ông L1) đã ký vào biên bản này.

[6] Xét, trước khi ông L1 lập giấy tay chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T, thì Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) đã có Quyết định 4381/QĐ-UBND thu hồi diện tích 7.296m² đất của ông L1. Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) đã căn cứ vào lý do này để ban hành Quyết định số 9018/QĐ-UBND không bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi toàn bộ diện tích 2.028,1m² của ông T.

Tuy nhiên, theo nội dung biên bản ngày 28/6/2004, thì tại thời điểm lập biên bản ông L1 đang quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 4.320m²/7.296m²; Phần diện tích còn lại 2.976m² ông L1 chưa phát dọn. Căn cứ vào nội dung trên có cơ sở xác định phần diện tích 4.320m² ông L1 đã quản lý, sử dụng từ trước ngày 01/7/2004. Trong phần diện tích 2.028,1m² ông T bị thu hồi có 1.232,8m² nằm trong diện tích 4.320m² và 795,3m² nằm trong diện tích 2.976m². Do đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) có Quyết định 4187/QĐ-UBND ngày 19/9/2019 bổ sung Quyết định số 9018/QĐ-UBND, bồi thường hỗ trợ đối với diện tích 1.232,8m²/2.028,1m² (do sử dụng trước ngày 01/7/2004), không bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích 795,3m²/2.028,1m² (do sử dụng sau ngày 01/7/2004) là có căn cứ.

[7] Mặc dù, Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) ban hành Quyết định 9018/QĐ-UBND ngày 30/12/2016 là không đúng, gây ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của ông T nhưng Quyết định này đã được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 4187/QĐ-UBND ngày 19/9/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) nên không cần thiết phải hủy Quyết định số 9018/QĐ-UBND.

[8] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy, bản án của Tòa án cấp sơ thẩm chưa đánh giá đầy đủ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, từ đó xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T là không đúng quy định của pháp luật, do đó, chấp nhận kháng cáo của người bị kiện, sửa bản án sơ thẩm theo hướng phân tích trên. Lập luận này cũng là cơ sở để không chấp nhận đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa.

[9] Về án phí:

- Án phí hành chính sơ thẩm: Ông Mai Gia T phải chịu; Ủy ban nhân dân thành phố P và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P không phải chịu.

- Án phí hành chính phúc thẩm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 241 Luật tố tụng hành chính;

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P); Sửa bản án sơ thẩm số 52/2020/HC-ST ngày 21/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang;

Áp dụng Điều 74, 75 Luật đất đai năm 2013; Khoản 4 Điều 34 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013; Nghị định số 01/0217/NC-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Mai Gia T về việc:
    • - Hủy Quyết định số: 9018/QĐ-UBND ngày 30/12/2016 của Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho ông Mai Gia T.
    • - Hủy một phần Quyết định số: 4187/QĐ-UBND ngày 19/9/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) về việc giải quyết khiếu nại, cụ thể đối với phần nội dung không công nhận bồi thường, hỗ trợ diện tích đất 795.3m² cho ông Mai Gia T.
    • - Buộc Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ cho ông Mai Gia T đối với diện tích đất bị thu hồi chưa bồi thường, hỗ trợ 795,3m² theo đúng quy định của pháp luật.
  2. Án phí hành chính sơ thẩm:

    Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) không phải chịu.

    Ông Mai Gia T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004784 ngày 17/01/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

  3. Án phí hành chính phúc thẩm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) không phải chịu, hoàn trả 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009403 ngày 19/10/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • – Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • – VKSNDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh (1);
  • – TAND tỉnh Kiên Giang (1);
  • – VKSND tỉnh Kiên Giang (1);
  • – Cục THADS tỉnh Kiên Giang (1);
  • – Các đương sự (4);
  • – Lưu: hồ sơ vụ án (1), VP (5), 15b (PPC);

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phan Nhựt Bình

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 491/2024/HC-PT ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ và quyết định giải quyết khiếu nại.

  • Số bản án: 491/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ và quyết định giải quyết khiếu nại.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger