Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 490/2023/HS-ST

Ngày: 28 - 11 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Gái.
  2. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Khải – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 433/2023/HSST ngày 16 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 513/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Trung Q, sinh năm: 1982, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 129E, Khu phố C, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: A M, Khu phố C, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Ái Q1, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị Tố Q2, sinh năm 1958; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ: Đặng Dương Mỹ Y, sinh năm 1995 và 01 con sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 25/6/2018, bị đưa đi cai nghiện tại Cơ sở Cai nghiện P1, tỉnh Bình Phước. Ngày 10/12/2019, chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/3/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Long Hải D, sinh năm: 1995, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 2 Đường A, Khu phố F, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Không; con ông Trần L (©) và bà Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1972; bị cáo là con thứ 02 trong gia đình có 04 anh em; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/3/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Mai Tuyết V, sinh năm: 2000, tại Thành phố Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: B B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Anh T (©) và bà Nguyễn Thị Hằng M (©); bị cáo là con thứ 02 trong gia đình có 03 anh em; chồng: Nguyễn Huy C, sinh năm 1997 và 04 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/3/2023 đến ngày 12/10/2023 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn thành cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trung Q: Ông Trần Quang T1 – Luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.

Địa chỉ: Số A M, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 45 phút, ngày 21/3/2023, Tổ tuần tra Công an thành phố T tuần tra đến trước địa chỉ Số C đường D, Khu phố F, phường B thì phát hiện Trần Long Hải D đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda SH Mode, biển số 59B1 - 418.55 không đội mũ bảo hiểm có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong túi áo khoác bên trái phía trước của D có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu. D khai là ma túy đá đang đi giao cho một người đàn ông tên N (chưa rõ lai lịch) nên tổ tuần tra đã đưa D về Công an phường B để làm việc, đồng thời lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với D.

Tại Công an phường B, D khai nhận: Chiều ngày 21/3/2023 khi D đang nằm trong phòng 202 Khách sạn S (số A đường C, Khu phố D, phường B) thì có người đàn ông tên N (không rõ lai lịch) gọi điện thoại cho D đặt mua một gói ma túy đá giá 1.500.000 đồng, D đồng ý và nói lại với bạn gái của DNguyễn Mai Tuyết V có người lấy đồ (ma túy) nên V đi qua phòng 203 của Khách sạn S

mua ma túy của Nguyễn Trung Q mang về đưa cho D phân ra thành các gói nhỏ. Sau đó D lấy 01 gói ma túy mang đi bán cho N thì bị kiểm tra bắt quả tang như trên. Quá trình ở chung với V tại khách sạn S, D khai đã cùng V bán ma túy được 04 - 05 lần và cùng sử dụng ma túy chung với VNguyễn Minh Đ được 02 lần tại Phòng 202. Lần đầu ngày 19/3/2023 và lần thứ hai là ngày 21/3/2023.

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 21/3/2023, Công an thành phố T phối hợp cùng Công an phường B kiểm tra hành chính tại phòng 202 Khách sạn S (Số A đường C, Khu phố D, phường B, thành phố T). Thời điểm kiểm tra trong phòng có Nguyễn Mai Tuyết VNguyễn Minh Đ. Đồng thời phát hiện trong túi nylon màu đỏ ở kệ gỗ đầu giường có 01 (một) gói nylon chứa bột trắng, V khai là ma túy lấy ở quán bar K đi làm mang về sử dụng; đồng thời phát hiện và thu giữ 03 (ba) gói nylon chứa tinh thể không màu trên bàn kính, V khai là ma túy mua của Nguyễn Trung QTrương Thanh H tại Phòng 203 Khách sạn S nên Công an thành phố T đã đưa VĐ về Công an phường B làm việc, đồng thời thu giữ nhiều đồ vật liên quan đến ma túy. Sau đó, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với V.

Trên cơ sở lời khai của V, ngay sau đó, Công an thành phố T đã tiến hành kiểm tra hành chính tại phòng 203 Khách sạn S (Số A đường C, Khu phố D, phường B, thành phố T). Khi Công an thành phố T gõ cửa yêu cầu kiểm tra thì nghe có tiếng động mạnh thì Nguyễn Trung Q mở cửa và nói bạn gái của QT2 Thanh Hiền vừa nhảy từ cửa sổ của phòng 203 xuống đất. Công an thành phố T tiếp tục kiểm tra ở tầng trệt của khách sạn S thì phát hiện Trương Thanh H đang nằm ở sàn trước cửa nhà vệ sinh tầng trệt của khách sạn S và có dấu hiệu bị gãy hai chân nên đã đưa H đến Bệnh viện L2 cấp cứu. Đồng thời đưa Nguyễn Trung Q về Công an phường B làm việc lập hồ sơ bắt Q trong trường hợp khẩn cấp. Tại nơi H nhảy xuống phát hiện thu giữ 01 (một) hộp kim loại màu xanh trắng bên trong có 05 (năm) gói nylon chứa tinh thể không màu và nhiều dụng cụ cụ liên quan đến việc sử dụng ma túy. Công an thành phố T đã niêm phong thu giữ toàn bộ vật chứng trên.

Tại Công an phường B, các đối tượng khai nhận như sau:

Nguyễn Mai Tuyết V khai nhận: Vi thuê phòng 202 Khách sạn S (Số A đường C, Khu phố D, phường B, thành phố T) sống như vợ chồng với Trần Long Hải D được khoảng 02 tuần trước ngày bị bắt và cùng D bán ma túy cho người nghiện. Ma túy V mua của Nguyễn Trung Q ở phòng 203 Khách sạn S cùng với bạn gái của Q tên Trương Thanh H (là bạn quen ngoài xã hội với V) để bán cho người nghiện, tiền bán ma túy thu về V trả cho QH còn tiền lời thu được thì cùng với D tiêu xài cá nhân và trả tiền thuê phòng khách sạn. Chiều ngày 21/3/2023 khi đang nằm trong phòng 202 Khách sạn S cùng D thì có người

điện thoại gọi cho D (V không biết là ai), sau khi nghe điện thoại xong D nói với V có người mua “đồ” (mua ma túy) nên V đi qua phòng 203 của Khách sạn S gặp Nguyễn Trung Q mua 01 gói ma túy giá 2.500.000 đồng nhưng chỉ đưa trước cho Q 300.000 đồng rồi mang gói ma túy về đưa cho D phân ra thành các gói nhỏ. D lấy 01 gói ma túy mang đi bán cho người nghiện thì bị kiểm tra bắt giữ. V trực tiếp mua ma tuý của Q khoảng 03 - 04 lần tại phòng 203 còn mua ma túy của H 01 lần do H mang ma túy đến phòng 202 đưa cho V. Khi bán ma túy xong, V đưa tiền cho H hoặc chuyển khoản cho QV có nghe H nói tiền bán ma túy V trả H sẽ chuyển khoản lại cho Q. V bán ma túy cho người nghiện được 02 lần tại cửa khách sạn S còn D mang ma túy đi bán cho người nghiện được 04 - 05 lần, giá bán ma túy tùy thuộc vào người mua đặt mua bao nhiêu D sẽ chia và đem ma túy với số lượng theo giá tiền mà người nghiện đặt mua. Ma túy mua của QH thì VD lấy một ít sử dụng cho bản thân phần còn lại chia nhỏ bán cho người nghiện lấy lời. Đối với ma túy thu giữ trong túi nylon màu đỏ ở kệ gỗ đầu giường, V khai là ma túy dạng ke V lấy ở quán bar còn dư về để sử dụng.

Nguyễn Minh Đ khai nhận: Đương là đối tượng nghiện, quen biết V ngoài xã hội. Đ đã từng đến khách sạn S gặp V, D để sử dụng ma túy được 03 (ba) lần. Sau khi sử dụng ma túy xong thì Đ chuyển khoản trả tiền ma túy vào tài khoản Momo của V, cụ thể: Khoảng một tuần trước khi bị bắt, Đ đến khách sạn S rồi nhắn tin, chuyển khoản cho V 200.000 đồng để sử dụng ma túy “đá”. Lần thứ hai, khoảng 02 ngày trước khi bị bắt, Đ đến phòng 202 gặp VD rồi sử dụng ma túy đá tại đây. Sau khi sử dụng xong thì Đ chuyển khoản cho V 100.000 đồng phí sử dụng. Lần thứ ba, ngày 21/3/2023, Đ nhắn tin Messenger với V, nói muốn hút vài hơi và chuyển khoản cho V 100.000 đồng. Sau đó, Đ đến phòng 202 gặp V, D. Tại đây D lấy ma túy đá bỏ vào bình hút rồi cả ba cùng sử dụng. Việc Đ chuyển tiền sử dụng ma túy cho V thì D biết và lấy ma túy bỏ vào bình hút cho Đ sử dụng.

Nguyễn Trung Q khai nhận: Q quen biết Trương Thanh H và cùng H thuê phòng 203 của khách sạn S sống như vợ chồng từ tháng 3/2023. Khoảng 16 giờ 20 phút, ngày 21/3/2023, khi Công an thành phố T yêu cầu kiểm tra phòng 203 thì Q đã cầm số vật chứng thu giữ tại tầng trệt nơi H nhảy xuống ném qua cửa sổ phòng 203 xuống đất rồi định nhảy xuống bỏ trốn nhưng do cao quá nên Q không dám nhảy mà quay ra mở cửa cho Công an thành phố T vào kiểm tra. Khi quay lại thì Q thấy H đã nhảy qua cửa sổ phòng 203 xuống đất. Số ma túy bị thu giữ nơi H nhảy xuống Q khai là do Q mua của một người phụ nữ (không rõ lai lịch) ở khu vực B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh với giá từ 500.000 đồng – 2.000.000 đồng/01 gói ma túy. Ma túy mua về Q đưa H giữ để bán lại cho người nghiện. Q đã trực tiếp bán ma túy cho Nguyễn Hữu C1 nhiều lần. Ngoài ra H

còn bán ma túy cho V, D nhiều lần. Tiền bán ma túy có được dùng để mua đồ ăn uống hàng ngày, trả tiền thuê phòng khách sạn và mua ma túy. Q không thừa nhận việc đã bán ma túy cho V trước đó nhưng khi V hay H chuyển tiền cho Q thì Q hỏi H thì Q biết đó là tiền bán ma túy. Chiều ngày 21/3/2023, V có gặp Q mua 01 hộp 5 ma túy giá 2.500.000 đồng và trả trước cho Q 300.000 đồng, Q thừa nhận việc này.

Trương Thanh H khai nhận: H quen và sống chung với Q tại phòng 203 của Khách sạn S. Trước đó H có quen biết với V ngoài xã hội nên khi vào khách sạn thuê phòng thì gặp lại nên thân với V. Khi Q đi mua ma túy mang về khách sạn thì H giúp Q bán ma túy cho V. Tiền bán ma túy cho V, V chuyển khoản cho H hoặc cho Q. Nếu V trả cho H thì H sẽ đưa lại hoặc chuyển khoản cho Q. H đã đưa ma túy cho V được 03 lần, mỗi lần tùy theo số lượng từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Ngoài bán ma túy cho V, H còn bán ma túy cho một số người bạn của H ngoài xã hội.

Nguyễn Hữu C1 khai nhận: C1 được bạn nghiện ngoài xã hội giới thiệu và cho số điện thoại di động 0902.891.xxx của Q và đã liên hệ mua ma túy của Q được khoảng 05 - 06 lần, mỗi lần 01 gói ma túy giá 300.000 đồng về sử dụng cho bản thân và không bán lại, Nguyễn Trung Q cũng thừa nhận việc bán ma túy cho C1.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Trung Q, Trần Long Hải D, Nguyễn Mai Tuyết V, Trương Thanh H là dương tính với AM1.

Kết luận giám định số 2702/KL-KTHS ngày 27 tháng 3 năm 2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận: (Thu giữ trên áo khoác của Trần Long Hải D).

“Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Long Hải D và hình dấu Công an phường B (ký hiệu mẫu m), là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,0685g, loại methamphetamine.”

Kết luận giám định số 2701/KL-KTHS ngày 27 tháng 3 năm 2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận: (Thu giữ trong phòng 202).

“Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Mai Tuyết V và hình dấu Công an phường B (ký hiệu mẫu m1), là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0453g, loại Ketamine.

Tinh thể không màu trong 02 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Mai Tuyết V và hình dấu Công an phường B (ký hiệu mẫu m2), là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,6199g, loại Methamphetamine”.

Kết luận giám định số 2701/KL-KTHS ngày 27 tháng 3 năm 2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận: (Thu giữ tầng trệt khách sạn S).

“Tinh thể không màu trong 05 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Hoàng T3 (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường B (ký hiệu mẫu m), là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,9282 g, loại Methamphetamine”.

* Vật chứng và đồ vật thu giữ:

  • - 01 (một) gói niêm phong có chữ ký của bị cáo Trần Long Hải D, bên ngoài ghi vụ số 2702/23 có chữ ký của GĐV Phan Tấn Q3, bên trong là ma túy ký hiệu (m) còn lại sau giám định;
  • - 01 (một) gói niêm phong có chữ ký của bị cáo Nguyễn Mai Tuyết V, bên ngoài ghi vụ số 2701/23 (gói 1) có chữ ký của GĐV Phan Tấn Q3, bên trong là ma túy ký hiệu (m1) còn lại sau giám định;
  • - 01 (một) gói niêm phong có chữ ký của bị cáo Nguyễn Mai Tuyết V bên ngoài ghi số vụ 2701/23 (gói 2) có chữ ký của GĐV Phan Tấn Q3, bên trong là ma túy ký hiệu (m2) còn lại sau giám định;
  • - 01 (một) gói niêm phong có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Hoàng T3, bên ngoài ghi số vụ 2703/23 có chữ ký của GĐV Phan Tấn Q3, bên trong là ma túy ký hiệu (m) còn lại sau giám định;
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone thu của Nguyễn Mai Tuyết V là phương tiện của V dùng để liên lạc mua ma túy;
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO thu giữ của Trần Long Hải D, là phương tiện dùng để liên lạc mua ma túy;
  • - 01 điện thoại Samsung màu xanh và 01 điện thoại Nokia màu đen thu giữ của Nguyễn Trung Q;
  • - 01 kéo kim loại màu trắng; 01 cân điện tử; 01 ống hút nhựa cắt nhọn một đầu; 08 bịch nylon bên trong không chứa gì; 01 chai nhựa tự chế để sử dụng ma túy. (Thu giữ trong Phòng 202);
  • - 01 cân điện tử màu đen; 01 túi màu đen bên trong có 01 hộp nhựa màu đen bên trong có 02 kéo kim loại màu trắng; 02 ống hút nhựa cắt nhọn một đầu; 01 khẩu trang màu xám gói 02 thủy tinh bên trong; 01 gói nylon chứa 10 gói nylon rỗng không chứa gì bên trong. (Thu giữ tại tầng trệt khách sạn S);
  • - 01 (một) xe mô tô biển số 51B1-418.55. Kết quả điều tra do bà Nguyễn Thị Tố Q2 (mẹ ruột của Nguyễn Trung Q) là chủ sở hữu. Nguyễn Trung Q

mượn xe của bà Q2 để đi chơi. Sau đó, D mượn xe của Q để đi mua đồ ăn. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Tố Q2.

Tại Cáo trạng số: 412/CT-VKSTPTĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Trung Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Trần Long Hải DNguyễn Mai Tuyết V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm b, c, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung Q từ 09 (chín) năm đến 10 (mười) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2023.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Long Hải D từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả 02 tội là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng đến 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2023.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s, n khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Mai Tuyết V từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả 02 tội là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng đến 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2023 đến ngày 12/10/2023.
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý với kết luận giám định, thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.

Luật sư Trần Quang T1 là người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trung Q tranh luận:

Luật sư thống nhất với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Q. Tuy nhiên, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; lần đầu phạm tội; cha bị cáo đang bệnh nặng, mẹ đã già yếu, bị cáo là con duy nhất trong gia đình... để giảm nhẹ cho bị cáo Q một phần hình phạt khi lượng hình.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo đã biết lỗi của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.

[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan; biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Ngày 21/3/2023, tại Phòng 202, Phòng 203 Khách sạn S (Địa chỉ: Số A Đường C, Khu phố D, phường B, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh), các bị cáo Nguyễn Trung Q, Trần Long Hải DNguyễn Mai Tuyết V đã có các hành vi cụ thể như sau:

Trần Long Hải DNguyễn Mai Tuyết V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán lại cho các con nghiện nhưng chưa xác định rõ được người mua, khối lượng ma túy làm căn cứ xử lý hình sự đối với DV là 4,5481g Methamphetamine. Bên cạnh đó, VD còn có hành vi 02 lần (vào các ngày 19/3/2023 và ngày 21/3/2023) cung cấp địa điểm, chất ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy cho Nguyễn Minh Đ sử dụng.

Nguyễn Trung Q có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích bán để kiếm lời. Quá đình điều tra đã xác định Nguyễn Trung Q thông qua Trương Thanh H đã bán ma túy cho Nguyễn Mai Tuyết V được 03 lần và bán cho Nguyễn Hữu C1 được 05 lần. Khối lượng ma túy làm căn cứ xử lý hình sự Nguyễn Trung Q là 6,6166g M.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, tiếp tay cho các tệ nạn xã hội ngày càng phát triển, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy và sự nghiêm cấm của pháp luật đối với hành vi mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vì nghiện ma túy và vụ lợi nên đã Nguyễn Trung Q mua bán ma túy cho người khác để kiếm lời; Trần Long Hải D, Nguyễn Mai Tuyết V do nghiện ma túy nên mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời, đồng thời tổ chức cho đối tượng khác sử dụng ma túy. Hành vi của Nguyễn Trung Q thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của Trần Long Hải DNguyễn Mai Tuyết V thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251, Điều 255 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với Trương Thanh H có hành vi giúp Nguyễn Trung Q bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Mai Tuyết VTrần Long Hải D. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã khởi tố Trương Thanh H về tội mua bán trái phép chất ma túy và áp dụng biện pháp bắt bị can để tạm giam nhưng đến nay chưa bắt được, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành tách vụ án mua bán trái phép chất ma túy đối với Trương Thanh H.

Đối với hành vi tàng trữ 0,0453g, loại Ketamine của Nguyễn Mai Tuyết V với mục đích sử dụng. Do khối lượng chưa đủ cơ sở để xử lý hình sự nên không xử lý Nguyễn Mai Tuyết V về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với Nguyễn Hữu C1 là đối tượng nhiều lần mua ma túy của Q về sử dụng, dương tính với ma túy nên đã bàn giao cho Công an phường B xử lý theo quy định.

Đối với Nguyễn Minh Đ là người nghiện ma túy là học viên đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện P1 nhưng bỏ trốn, có hành vi tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra đã bàn giao Đương cho Cơ sở cai nghiện P1.

Đối với Bùi Hữu Nghĩa là chủ khách sạn S không biết các đối tượng Q, V, D, Đ sử dụng trái phép chất ma túy trong khách sạn nên không có cơ sở xử lý hình sự.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Q và người đàn ông tên N mua ma túy của D hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

Ngoài ra, quá trình điều tra xác định D cùng V đã từng sang Phòng 203 chơi với H 01 lần nhưng không có Q ở trong phòng. Trong lúc nói chuyện thì D, VH có thấy chai nhựa tự chế để sử dụng ma túy của Q pha sẵn còn ma túy nên mỗi người tự lấy lên hút sau đó D, V về lại Phòng 202. Tuy nhiên, do không xác định rõ thời gian, không thu được bình nhựa hút ma túy trước đây. Mặt khác, Q không biết các đối tượng sử dụng ma túy trong phòng của Q nên không có căn cứ xử lý Q về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

  • - Bị cáo Q phạm tội 02 lần trở lên, đối với 02 người trở lên và khối lượng ma túy mua bán là 6,6166g Methamphetemine nên thuộc trường hợp quy định tại điểm b, c, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
  • - Đối tượng Nguyễn Minh Đ khai nhận trước hoặc sau khi sử dụng ma túy đã trả tiền cho V 03 lần (01 lần 200.000 đồng, 02 lần 100.000 đồng). Tuy nhiên trong quá trình điều tra, không xác định được lượng ma túy mà Đ sử dụng mỗi lần, tiền Đ đưa cho V sau khi sử dụng ma túy là tự nguyện, V không đòi hỏi Đ phải trả tiền sử dụng ma túy. Bên cạnh đó, ĐV đều thừa nhận giữa hai bên không có thỏa thuận mua bán ma túy mà tiền này được hiểu là Đ trả phí sử dụng ma túy. Mặt khác, những lần Đ sử dụng ma túy có cả VD cùng sử dụng. Do đó, không có căn cứ áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội từ 02 lần trở lên đối với hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” của VD.
  • - Bị cáo D, V tổ chức cho người khác sử dụng trái phép từ 02 lần trở lên, đối với 02 người trở lên (cả DV cùng sử dụng) nên thuộc trường hợp quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vi phạm tội khi đang mang thai nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Vụ án có đồng phạm nhưng giản đơn, các bị cáo đều là người nghiện ma túy, tàng trữ số lượng lớn ma túy vừa để sử dụng, vừa để mua bán để kiếm lời

nên Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo để quyết định hình phạt tương xứng. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng nên cần phải xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với số ma túy thu giữ của các bị cáo: Xét đây là chất ma túy Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone thu của Nguyễn Mai Tuyết V; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO thu giữ của Trần Long Hải D; 01 điện thoại Sam sung màu xanh và 01 điện thoại Nokia màu đen thu giữ của Nguyễn Trung Q: Đây là phương tiện các bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 01 kéo kim loại màu trắng; 01 cân điện tử; 01 ống hút nhựa cắt nhọn một đầu; 08 bịch nylon bên trong không chứa gì; 01 chai nhựa tự chế để sử dụng ma túy; 01 cân điện tử màu đen; 01 túi màu đen bên trong có 01 hộp nhựa màu đen bên trong có 02 kéo kim loại màu trắng; 02 ống hút nhựa cắt nhọn một đầu; 01 khẩu trang màu xám gói 02 thủy tinh bên trong; 01 gói nylon chứa 10 gói nylon rỗng không chứa gì bên trong là tang vật của vụ án, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 51B1-418.55 do bà Nguyễn Thị Tố Q2 (mẹ ruột của Nguyễn Trung Q) là chủ sở hữu, bà Q2 không biết Q sử dụng vào hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Q2 là có căn cứ.

[6] Ý kiến tranh luận của Luật sư Nguyễn Quang T4 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trung Q đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ nên được chấp nhận.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Tuyên bố các bị cáo Trần Long Hải DNguyễn Mai T5 V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

  • - Căn cứ điểm b, c, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung Q: 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2023.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Long Hải D: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả 02 tội là 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2023.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s, n khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Mai Tuyết V: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả 02 tội là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2023 đến ngày 12/10/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (một) gói niêm phong có chữ ký của bị cáo Trần Long Hải D, bên ngoài ghi vụ số 2702/23 có chữ ký của GĐV Phan Tấn Q3, bên trong là ma túy ký hiệu (m) còn lại sau giám định;
  • + 01 (một) gói niêm phong có chữ ký của bị cáo Nguyễn Mai Tuyết V, bên ngoài ghi vụ số 2701/23 (gói 1) có chữ ký của GĐV Phan Tấn Q3, bên trong là ma túy ký hiệu (m1) còn lại sau giám định;
  • + 01 (một) gói niêm phong có chữ ký của bị cáo Nguyễn Mai Tuyết V bên ngoài ghi số vụ 2701/23 (gói 2) có chữ ký của GĐV Phan Tấn Q3, bên trong là ma túy ký hiệu (m2) còn lại sau giám định;
  • + 01 (một) gói niêm phong có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Hoàng T3, bên ngoài ghi số vụ 2703/23 có chữ ký của GĐV Phan Tấn Q3, bên trong là ma túy ký hiệu (m) còn lại sau giám định;
  • + 01 kéo kim loại màu trắng; 01 ống hút nhựa cắt nhọn một đầu; 08 bịch nylon bên trong không chứa gì; 01 chai nhựa tự chế để sử dụng ma túy;
  • + 01 cân điện tử; 01 cân điện tử màu đen; 01 túi màu đen bên trong có 01 hộp nhựa màu đen bên trong có 02 kéo kim loại màu trắng; 02 ống hút nhựa cắt nhọn một đầu; 01 khẩu trang màu xám gói 02 thủy tinh bên trong; 01 gói nylon chứa 10 gói nylon rỗng không chứa gì bên trong.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone;
  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO;
  • + 01 điện thoại Samsung màu xanh;
  • + 01 điện thoại Nokia màu đen.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 247/QĐ-VKS ngày 11/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Phiếu nhập kho số NK24/017C ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Buộc các bị cáo, mỗi bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

- Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Ngọc

14

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 490/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 490/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trung Q và đồng bọn phạm "Mua bán trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger