Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 490/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 03/12/2024

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành

Bà Bùi Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh – Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên tòa.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 422/2024/TLST-HNGĐ ngày 25/10/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 467/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/11/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1990; Hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ hiện nay: phòng D, đường C số B, tòa nhà N, I, thành phố S, tỉnh Saitama, Nhật Bản. Vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thái L, sinh năm 1989; Địa chỉ: xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai (có xác nhận của Đ tại Nhật Bản), nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Thái L yêu nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 07/11/2012 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Thời gian đầu chung sống, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, đầm ấm. Từ năm 2023 trở lại đây vợ chồng mâu thuẫn thường xuyên. Nguyên nhân là do năm 2023, chị T đi xuất khẩu lao động nước ngoài để làm ăn, vợ chồng không còn tin tưởng nhau, không quan tâm gì đến cuộc sống của nhau. Tình cảm vợ chồng không còn như trước, căng thẳng kéo dài, không thể hòa giải được. Nay chị T nhận thấy vợ chồng thân ai người nấy lo, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thái L.

Về con chung: Chị T và anh Nguyễn Thái L có 02 con chung là cháu Nguyễn Huy H, sinh ngày 21/5/2013 và Nguyễn Huy P, sinh ngày 06/6/2019. Từ khi chị đi nước ngoài, hai cháu ở bố là anh Nguyễn Thái L và ông bà ngoại. Vì chị T hiện đang ở nước ngoài nên ly hôn chị có nguyện vọng giao 02 con chung cho anh Nguyễn Thái L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ tuổi trưởng thành. Chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con với số tiền 2.000.000 đồng/tháng/02 cháu.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, bị đơn anh Nguyễn Thái L trình bày: Anh thừa nhận thời gian, điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng như chị Nguyễn Thị T trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hanh phúc. Đến cuối năm 2023, chị T đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Sau khi chị T đi nước ngoài thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nay, chị T làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh đồng ý.

Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị T có 02 con chung là cháu Nguyễn Huy H, sinh ngày 21/5/2013 và Nguyễn Huy P, sinh ngày 06/6/2019. Từ khi chị T đi nước ngoài, 02 con chung ở với anh và do anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay nếu ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung. Về cấp dưỡng nuôi con, anh và chị T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn đề xuất nguyện vọng, cháu Nguyễn Huy H trình bày: cháu là con của bố Nguyễn Thái L và mẹ Nguyễn Thị T, nếu bố mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với bố Nguyễn Thái L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T đang cư trú ở Nhật Bản, bị đơn anh Nguyễn Thái L có địa chỉ cư trú tại huyện D, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, không có tranh chấp về con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T làm đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn xin vắng mặt, giấy ủy quyền (có xác nhận của Đ tại Nhật Bản) và đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn anh Nguyễn Thái L có bản tự khai trình bày quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án và có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 điều 207; khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không hoà giải được và Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[3] Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thái L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Hiện nay, chị T đang ở Nhật Bản, anh L đang ở Việt Nam. Vợ chồng sống xa cách nhau từ khi chị T đi nước ngoài đến nay. Cả hai bên đều thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nên mong muốn ly hôn. Xét thấy, hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thái L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thái L được ly hôn.

[3.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thái L có 02 con chung là cháu Nguyễn Huy H, sinh ngày 21/5/2013 và Nguyễn Huy P, sinh ngày 06/6/2019. Ly hôn, chị T và anh L đều có nguyện vọng giao 02 con chung cho anh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: anh Nguyễn Thái L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên cần chấp nhận sự tự nguyện của chị T cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng/02 con, thời gian thực hiện từ tháng 12/2024 cho đến khi 02 con chung trưởng thành 18 tuổi.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thái L không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.

[4] Về án phí:

- Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thái L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban T1 về án phí, lệ phí Tòa án; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

- Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40, khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 122, 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thái L được ly hôn.
  2. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Huy H, sinh ngày 21/5/2013 và Nguyễn Huy P, sinh ngày 06/6/2019 cho anh Nguyễn Thái L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

    Về cấp dưỡng nuôi con: chị Nguyễn Thị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 2.000.000đ/tháng/02 con, thời gian thực hiện từ tháng 12/2024 cho đến khi 02 con chung trưởng thành 18 tuổi.

    Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thái L không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0013370 ngày 23/10/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An, số tiền còn lại chị T phải nộp là 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng.

    Anh Nguyễn Thái L phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Thái L có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
  6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã H, h.Đ, P.
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 490/2024/HNGĐ-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 490/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình Nguyễn Thị T- Nguyễn Thái L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger