TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2024/DS-ST
Ngày 31/7/2024
V/V: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Quyên
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư
Bà Nguyễn Thị Thuỷ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 31/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 56/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST - DS ngày 01/7/2024, quyết định hoãn phiên tòa số 74/2024/QĐST-DS ngày 16/7/2024, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Trương Thị L, sinh năm 1965
- Bị đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1975 (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Địa chỉ: Số nhà F, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện theo uỷ quyền: Bà Võ Thị An B, sinh năm 1982; địa chỉ: Số I, đường H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Có mặt).
HKTT và nơi ở: Số nhà A, đường X, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1970 (Xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà A, đường X, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải có trong hồ sơ, nguyên đơn và đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Võ Thị An B trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết nên bà L có cho vợ chồng bà Lê Thị H vay tiền để kinh doanh, phát triển kinh tế gia đình. Từ ngày 16/02/2021 đến ngày 07/3/2021 âm lịch, bà L có cho vợ chồng bà Lê Thị H, ông Nguyễn Ngọc T vay tổng cộng là 200.000.000 đồng, cụ thể các lần vay tiền như sau:
Ngày 16/02/2021 âm lịch, bà L có cho bà H, ông T vay số tiền 130.000.000 đồng, thời hạn vay là 10 tháng, không thoả thuận về lãi suất trong giấy vay. Nội dung giấy vay tiền thể hiện “Hem Hảo P ngày 16/02/2021 âm lịch. Lê Thị H 183 đường X, thành phố B. H (Hảo P) nợ chị L 130.000.000 đồng. Thời hạn đến 16/12/2021”. Mục đích bà H vay tiền là để kinh doanh cửa hàng. Mặc dù cả hai vợ chồng bà H, ông T cùng lên hỏi vay tiền nhưng trong giấy vay tiền chỉ có một mình bà H ký. Nội dung trong giấy vay tiền là do bà L viết, còn chữ ký “H, Lê Thị H” là do bà H trực tiếp viết. Lý do viết “H em Hảo P” là vì bà H1 là con của của bà Phan c phố với bà L. Sau khi bà H ký giấy vay tiền thì bà L đã giao cho bà H nhận đủ số tiền 130.000.000 đồng.
Ngày 07/3/2021 âm lịch (tức 18/4/2021 dương lịch), bà H cho bà L, ông T vay số tiền 70.000.000 đồng để mua thực phẩm kinh doanh buôn bán, thời hạn vay đến ngày 18/12/2021 âm lịch, không thoả thuận về lãi suất trong giấy vay. Nội dung trong giấy vay tiền do bà H và bà L cùng viết, chữ ký “H, Lê Thị H” là do bà H viết, ông T không ký giấy vay tiền. Sau khi viết giấy vay tiền, bà L đã đưa cho bà H 70.000.000 đồng.
Đến hạn trả nợ theo thoả thuận là ngày 16/12/2021 âm lịch tức 18/01/2022 dương lịch đối với khoản vay 130.000.000 đồng và ngày 18/12/2021 âm lịch tức ngày 20/01/2022 dương lịch đối với khoản vay 70.000.000 đồng, bà H ông T không trả bà L tiền gốc và tiền lãi như đã cam kết. Bà L nhiều lần đòi nhưng bà H, ông T không trả. Nay bà L yêu cầu bà H, ông T phải thanh toán trả bà số tiền gốc và lãi kể từ ngày vi phạm tạm tính đến ngày 04/4/2024 dương lịch theo mức lãi suất quy định của pháp luật cụ thể như sau:
(130.000.000 đồng x 10%/01 năm x 2 năm) + (130.000.000 đồng x 0,83%/01 tháng x 2 tháng) + (130.000.000 đồng x 0,027%/01 ngày x 16 ngày) = 26.000.000 đồng + 2.158.000 đồng + 561.000 đồng = 28.719.600 đồng.
(70.000.000 đồng x 10%/01 năm x 2 năm) +( 70.000.000 đồng x 0,83%/01 tháng) x 2 tháng) + ( 70.000.000 đồng x 0,027%/01 ngày x 14 ngày) = 14.000.000 đồng + 1.162.000 đồng + 264.600 đồng = 15.426.000 đồng.
Tổng cộng gốc và lãi tạm tính đến ngày 04/4/2024 theo 02 giấy vay tiền trên là 244.146.200 đồng. Bà H, ông T còn tiếp tục phải chịu lãi kể từ ngày 05/4/2024 theo mức lãi suất quy định của pháp luật cho đến khi thanh toán xong nợ.
Bị đơn bà Lê Thị H đã được niêm yết triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bà H không đến Tòa án làm việc, không có bản tự khai trình bày ý kiến, không tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, không tham gia phiên tòa. Việc bà H không đến Tòa án làm việc là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc T trình bầy: Ông là chồng của bà Lê Thị H, sinh năm 1975. Việc bà L khởi kiện yêu cầu ông và bà H phải trả bà L tổng số tiền gốc và lãi tạm tính là 244.146.200 đồng gồm tiền gốc và tiền lãi theo giấy vay tiền ngày 07/3/2021 âm lịch và giấy vay tiền ngày 16/02/2021 âm lịch thì ông xác định ông không biết về việc vay tiền giữa bà H với bà L cụ thể như thế nào. Ông không liên quan, không được hưởng lợi gì từ khoản tiền vay trên giữa bà H và bà L do ông và bà H đã sống ly thân từ cuối năm 2019 cho đến nay, không liên hệ, liên quan gì tới nhau nữa. Việc bà L khởi kiện yêu cầu ông và bà H có trách nhiệm cùng thanh toán thì ông không nhất trí do ông không vay mượn gì. Do bận nhiều công việc nên ông xin được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, xét xử tại Toà án.
Tại biên bản làm việc ngày 07/5/2024 ông Nguyễn Văn B1, tổ trưởng tổ dân phố số H, phường N, thành phố B cung cấp như sau: Bà Lê Thị H, sinh năm 1975 hiện có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số A, đường X, phường N, thành phố B. Tuy nhiên, khoảng 3-4 năm nay bà H vắng mặt tại nơi cư trú. Đại diện Tổ dân p không gặp bà H cũng không nắm được hiện bà H đang làm gì, ở đâu và vắng mặt vì lý do gì.
Tại công văn số 2436/QLXNC ngày 30/7/2024, Phòng Q – Công an tỉnh B cung cấp như sau: Chị Lê Thị H, sinh ngày 03/5/1775, số CCCD [...]; Nơi đăng ký HKTT: Tổ H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang được cục Q1, Bộ C cấp 01 hộ chiếu phổ thông số K0220569, đến nay chưa có thông tin xuất, nhập cảnh hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay: Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc không yêu cầu ông T phải liên đới cùng bà H thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho bà L. Còn đối với các nội dung khác vẫn giữ nguyên. Cụ thể đề nghị HĐXX buộc bà Lê Thị H có trách nhiệm thanh toán trả bà Trương Thị L số tiền gốc theo 02 giấy vay tiền là 200.000.000 đồng và số tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 50.570.200 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 250.570.200 đồng.
Bị đơn bà Lê Thị H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của ông T có trong hồ sơ. Nguyên đơn không có ý kiến gì về lời khai của ông T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án. Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xin vắng mặt là chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt không có lý do là chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 463; Điều 465; Điều 466; Điều 468 Bộ luật Dân sự; Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị L. Buộc bà Lê Thị H có trách nhiệm thanh toán trả bà Trương Thị L số tiền gốc 200.000.000 đồng, số tiền lãi 50.570.200 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 250.570.200 đồng.
-Về án phí: Bà Lê Thị H phải chịu 12.528.000 đồng tiền án phí DSST. Hoàn trả bà L số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ bà Trương Thị L đã nộp hoàn toàn hợp lệ, đảm bảo đầy đủ, đúng pháp luật.
[2]. Về thời hiệu khởi kiện: Các đương sự không ai có yêu cầu áp dụng về thời hiệu nên không xem xét về thời hiệu trong vụ án này.
[3]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trương Thị L khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị H phải thanh toán trả bà số tiền gốc là 200.000.000 đồng và tiền lãi nên cần xác định đây là quan hệ pháp luật về tranh chấp dân sự, cụ thể là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn bà Lê Thị H có hộ khẩu thường trú tại số A, đường X, phường N, thành phố B nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
[4] Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Bị đơn bà Lê Thị H đã được thông báo, niêm yết triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc T xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bà Lê Thị H, ông Nguyễn Ngọc T là phù hợp quy định pháp luật.
[5] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị L yêu cầu bà Lê Thị H phải thanh toán trả bà số tiền gốc theo giấy vay tiền ngày 16/02/2021 âm lịch là 130.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật kể từ thời điểm ngày 17/12/2021 âm lịch (tức 19/01/2022 dương lịch) và số tiền gốc theo giấy vay tiền ngày 18/4/2021 dương lịch (tức 07/3/2021 âm lịch) là 70.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật kể từ thời điểm ngày 19/12/2021 âm lịch (tức 21/01/2022 dương lịch) cho đến khi xét xử sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy:
[5.1] Giữa bà L và bà H có mối quan hệ quen biết nhau từ trước. Ngày 16/02/2021 âm lịch, bà H có vay tiền bà L, trong nội dung giấy vay thể hiện số tiền gốc vay 130.000.000 đồng, hẹn thời hạn trả 16/12/2021, không thỏa thuận về lãi suất. Ngày 18/4/2021 dương lịch tức ngày 07/3/2021 âm lịch, bà L có cho bà H vay số tiền 70.000.000 đồng, hẹn thời hạn trả 18/12/2021, không thoả thuận về lãi suất. Bà L xác định giấy vay tiền là do bà L trực tiếp viết còn chữ ký H – Lê Thị H là do bà H viết và ký. Bà L cũng đã cung cấp được bản gốc 02 giấy vay tiền trên nên đây là tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của bà L là có căn cứ. Việc bà H đã được niêm yết triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không cung cấp tài liệu chứng cứ là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L về số tiền gốc theo 02 giấy vay tiền là 200.000.000 đồng, cần buộc bà H trả bà L số tiền gốc trên.
[5.2] Về số tiền lãi: Bà L yêu cầu bà H thanh toán số tiền lãi theo quy định của pháp luật kể từ ngày 19/01/2022 dương lịch cho đến khi xét xử sơ thẩm trên số tiền gốc 130.000.000 đồng và kể từ ngày 21/01/2022 dương lịch cho đến khi xét xử sơ thẩm trên số tiền gốc 70.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:
Mặc dù trong 02 giấy vay tiền ngày 16/02/2021 và ngày 07/03/2021, giữa hai bên không thỏa thuận với nhau về lãi suất nhưng bà L yêu cầu bà H phải trả tiền lãi theo quy định của pháp luật, bà H không đến Tòa án làm việc nên cần xác định giữa các bên có tranh chấp nhau về lãi suất và bà H chưa thanh toán tiền lãi cho bà L. Do các đương sự có tranh chấp nhau về lãi nên cần áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự để tính lãi. Theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự thì trường hợp có tranh chấp về lãi thì lãi suất được xác định bằng 50% lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Do vậy, cần xác định mức lãi suất để tính lãi đối với yêu cầu của bà L là 10%/01 năm; 0,83%/01 tháng và 0,027%/ngày là phù hợp và có căn cứ chấp nhận.
Đối với khoản vay 130.000.000 đồng ngày 16/02/2021 âm lịch, ngày đến hạn 16/12/2021 âm lịch (tức ngày 18/01/2022 dương lịch), bà L yêu cầu tính lãi từ ngày 19/01/2022 dương lịch cho đến khi xét xử sơ thẩm; đối với khoản vay 70.000.000 đồng ngày 18/4/2021 dương lịch (ngày 07/3/2021 âm lịch), ngày đến hạn 18/12/2021 âm lịch tức ngày 20/01/2022 dương lịch, bà L yêu cầu tính lãi từ ngày 21/01/2022 dương lịch đến khi xét xử sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù bà H chưa thanh toán tiền lãi cho bà L từ thời điểm vay của hai khoản tiền trên. Tuy nhiên, bà L chỉ yêu cầu tính lãi kể từ ngày 19/01/2022 dương lịch đối với khoản vay 130.000.000 đồng và từ ngày 21/01/2022 dương lịch đối với khoản vay 70.000.000 đồng nên cần chấp nhận yêu cầu tính lãi này. Do đó, đối với số tiền lãi cần được xác định như sau:
Từ ngày 19/01/2022 đến ngày 31/7/2024 là (130.000.000 đồng x 10%/01 năm x 2 năm) + (130.000.000 đồng x 0,83%/01 tháng x 6 tháng) + ( 130.000.000 đồng x 0,027%/01 ngày x 12 ngày) = 26.000.000 đồng + 6.474.000 đồng + 421.200 đồng = 32.895.200 đồng.
Từ ngày 21/01/2022 đến ngày 31/7/2024 là (70.000.000 đồng x 10%/01 năm x 2 năm) + (70.000.000 đồng x 0,83%/01 tháng x 6 tháng) + ( 70.000.000 đồng x 0,027%/01 ngày x 10 ngày) = 14.000.000 đồng + 3.486.000 đồng + 189.000 đồng = 17.675.000 đồng.
Do vậy, tổng cộng cả gốc và lãi bà H phải thanh toán trả bà L là 250.570.200 đồng (Hai trăm năm mươi triệu năm trăm bẩy mươi nghìn hai trăm đồng).
[5.3] Đối với việc đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc không yêu cầu ông T phải có trách nhiệm thanh toán trả tiền vay bà L cùng bà H. Hội đồng xét xử xét thấy việc rút yêu cầu này của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện nên cần chấp nhận, buộc bà H có trách nhiệm thanh toán trả bà L số tiền đã vay là phù hợp.
[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà L được chấp nhận nên bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Hoàn trả bà L số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 70; Điều 71; Điều 72; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463; Điều 465; Điều 466; Điều 468 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị L. Buộc bà Lê Thị H có trách nhiệm thanh toán trả bà Trương Thị L số tiền gốc 200.000.000 đồng, số tiền lãi 50.570.200 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 250.570.200 đồng (Hai trăm năm mươi triệu năm trăm bẩy mươi nghìn hai trăm đồng).
- Về án phí: Bà Lê Thị H phải chịu 12.528.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả bà Trương Thị L số tiền tạm ứng án phí 6.100.000 đồng theo biên lai thu số 0001725 ngày 19/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt án hợp lệ.
- Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKS TP Bắc Giang, - CCTHA dân sự TP Bắc Giang, - Các đương sự, - Lưu HS, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Lương Thị Thanh Quyên |
Bản án số 49/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 49/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Trương Thị L khởi kiện chị Lê Thị H
