|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31/7/2024
V/v tranh chấp hôn nhân
và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG- TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Hoàng Thắng
Ông Thò Bá Tểnh
- Thư ký phiên tòa: Lê Thị Thảo- Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Võ Trọng Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 22/2024/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 34/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 29/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vi Thị Linh T, sinh năm 1997 (Có đơn xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Mạc Tuấn A, sinh năm 1995 (Vắng mặt lần thứ hai không có lý do).
Địa chỉ: Tổ A, Ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ: Bản Y, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 16/02/2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án chị Vi Thị Linh T trình bày:
- Về tình cảm: Chị Vi Thị Linh T và anh Mạc Tuấn A tìm hiểu nhau được
một thời gian thì kết hôn vào năm 2013. Chị T và anh A đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An vào ngày 13/7/2017 trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng sống rất hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh vào cuối năm 2021, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do, vợ chồng sống tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã nhau, xúc phạm nhau thậm tệ, anh A có xu hướng bạo lực gia đình, chị T đã cố gắng hàn gắn vì con nhưng anh A không chịu sửa chữa nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đến đầu năm 2022 thì vợ chồng sống ly thân với nhau. Nay mục đích hôn nhân không đạt được chị T có nguyện vọng ly hôn để ổn định cuộc sống và công việc.
- Về con chung: Chị T và anh A có 01 con chung là cháu Mạc Thị Ánh T1, sinh ngày 02/6/2017 cháu đang sống cùng với chị T tại Tổ A, Ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước. Từ khi ly thân đến nay cháu do chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, anh A thỉnh thoảng gọi điện hỏi thăm con, không gửi tiền cấp dưỡng nuôi con. Nên nếu ly hôn đặt ra chị T có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh A cấp dưỡng tiền nuôi con
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ, các thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hoà giải hợp lệ cho anh Mạc Tuấn A theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh A đều vắng mặt, vụ án không tiến hành hoà giải được do sự vắng mặt của bị đơn anh Mạc Tuấn A. Nguyên đơn chị Vi Thị Linh T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Mạc Tuấn A nên Toà án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Kết quả xác minh tại địa phương:
Anh Mạc Tuấn A có hộ khẩu thường trú tại bản Y, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An, nằm trong hộ khẩu của bà Lương Thị Vân m đẻ anh Mạc Tuấn A. Anh Mạc Tuấn A và chị Vi Thị Linh T là vợ chồng đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An tại số 17/2017, ngày 13/7/2017, có 01 con chung là cháu Mạc Thị Ánh T1, sinh năm 2017, hiện cháu đang sống chị Vi Thị Linh T. Chị T và anh A hiện nay sống ly thân với nhau. Anh Mạc Tuấn A hiện nay đi làm ăn xa, còn làm gì ở đâu chính quyền địa phương và gia đình không nắm được. Anh A thỉnh thoảng liên lạc với gia đình qua điện thoại hoặc Messenger https://www.facebook.com/profile.php?id=100081506381941tên là “Tuan Anh”.
Tại bản tự khai ngày 04/3/2024 cháu Mạc Thị Ánh T1 con chung của chị Vi Thị Linh T và anh Mạc Tuấn A: Cháu Mạc Thị Ánh T1 có nguyện vọng sống với chị Vi Thị Linh T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với nguyên đơn, bị đơn: Đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn chị Vi Thị Linh T cụ thể như sau: Quan hệ hôn nhân cho chị Vi Thị Linh T được ly hôn với anh Mạc Tuấn A; Con chung: giao cháu Mạc Thị Ánh T1, sinh ngày 02/6/2017 cho chị Vi Thị Linh T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị T; Tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Án phí: chị T chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng và các lời khai của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thủ tục tố tụng: Đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Anh Mạc Tuấn A có hộ khẩu thường trú tại bản Y, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An. Căn cứ vào Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị Vi Thị Linh T và bị đơn anh Mạc Tuấn A thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai không vì trường hợp bất khả kháng, trở ngại khách quan nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Quan hệ hôn nhân: Chị T và anh A kết hôn với nhau vào năm 2017 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc và được Ủy ban nhân dân xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn tại số 17/2017 ngày 13/7/2017 vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
[3] Nội dung:
[3.1] Tình cảm: Chị T và anh A trong quá trình chung sống có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do quan điểm sống khác nhau, vợ
chồng thường xuyên chưởi bới, xúc phạm nhau thậm tệ, và đã sống ly thân với nhau từ đầu năm 2022, chị T cũng thừa nhận, chị không còn tình cảm với anh A, không muốn tiếp tục chung sống với anh A và muốn được ly hôn để ổn định cuộc sống, hôn nhân không đạt được mục đích, mâu thuẫn phát sinh từ lâu nhưng cả hai không tìm ra được giải pháp khắc phục, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của chị T và anh A đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3.2] Con chung: Chị T và anh A có 01 con chung là cháu Mạc Thị Ánh T1, sinh ngày 02/6/2017 hiện cháu đang sống với chị Vi Thị Linh T tại tổ A, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước, khi ly hôn chị Vi Thị Linh T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Mạc Thị Ánh T1 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành. Xét thấy, từ khi ly thân vào năm 2021 cháu Mạc Thị Ánh T1 do chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, bản thân cháu T1 cũng có nguyện vọng sống với chị T. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Mạc Thị Ánh T1 đã sống ổn định với chị Vi Thị Linh T. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Mạc Thị Ánh T1, sinh ngày 02/6/2017 cho chị Vi Thị Linh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi, trưởng thành, chị T không có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh A được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở anh A thực hiện quyền này.
[3.3] Tài sản chung, nợ chung: Chị Vi Thị Linh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, và Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q;
Tuyên xử:
- Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Vi Thị Linh T được ly hôn với anh Mạc Tuấn A.
- Con chung:
- + Giao con chung của nguyên đơn và bị đơn là cháu Mạc Thị Ánh T1, sinh ngày 02/6/2017 cho chị Vi Thị Linh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- - Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh A;
- - Anh A có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một bên hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Án phí: Buộc chị Vi Thị Linh T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007309 ngày 16/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lương Thị Ái |
Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 49/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
