Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31-7-2024

V/v “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Mai Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Quốc Đạt, ông Đoàn Văn Cương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xét xử sơ thẩm vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 134/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1994. Địa chỉ: Tổ dân phố số B, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Bị đơn: Anh Nguyễn Duy L, sinh năm 1995. Địa chỉ: Tổ dân phố số B, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

(Chị T, anh L vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu T trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Duy L vào năm 2022, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang theo quy định pháp luật. Trước khi kết hôn hai bên có được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn.

Vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc với nhau đến cuối năm 2022 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung trong công việc và cuộc sống hằng ngày dẫn đến xảy ra cãi cọ, xô sát. Nay chị xác định bản thân không còn tình cảm với anh L nên chị yêu cầu xin ly hôn anh L.

Về con chung: Chị và anh L có 01 con chung là Nguyễn Phương An C, sinh ngày 30/5/2022. Vợ chồng ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung Nguyễn Phương An C. Chị yêu cầu anh L phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con với mức 3.000.000đ/01 tháng cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Bản thân chị có công việc, thu nhập ổn định và có đủ điều kiện để nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Duy L trình bày: Anh xác nhận về thời gian, điều kiện kết hôn giữa anh và chị T đúng như chị T trình bày. Quá trình chung sống, anh và chị T thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung trong công việc và cuộc sống hàng ngày. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 4/2024 cho tới nay. Nay chị T xin ly hôn, anh nhất trí.

Về con chung: Anh và chị T có 01 con chung đúng như chị T trình bày. Sau khi vợ chồng ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung Ngyễn Phương An C. Anh không yêu cầu chị T phải góp cấp dưỡng nuôi con. Bản thân anh có công việc, thu nhập ổn định và có đủ điều kiện để nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều có bản tự khai và cung cấp tài liệu chứng cứ, Toà án đã mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định pháp luật.

* Tại phiên toà, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) công bố lời khai, tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi thẩm tra các chứng cứ tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng:

[1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Thu T làm đơn khởi kiện ly hôn anh Nguyễn Duy L, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang là nơi bị đơn cư trú giải quyết là đúng quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh L, yêu cầu được nuôi con chung, về cấp dưỡng nuôi con. Căn cứ Điều 51, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Lạng Giang thụ lý, giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.

[3] Sự vắng mặt của các đương sự: Chị T, anh L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử theo thủ tục vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

Về nội dung:

[4] Về quan hệ hôn nhân:

Chị T và anh L đăng ký kết hôn ngày 12/5/2022 tại UBND xã thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên xác định hôn nhân giữa chị T và anh L là hợp pháp.

Quá trình chung sống, bản thân chị T và anh L đều xác định trong quan hệ hôn nhân, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm trong công việc và cuộc sống hằng ngày; vợ chồng đã được hai bên gia đình hoà giải để về đoàn tụ nhưng không có kết quả; vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4/2024 cho đến nay, không còn quan tâm tới nhau. Nay chị T xác định không còn tình cảm vợ chồng, yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn; anh L đồng ý ly hôn. Do đó, có đủ cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình để xử cho chị T được ly hôn anh L.

[5] Về quan hệ con chung: Chị T và anh L có 01 con chung là Nguyễn Phương An C, sinh ngày 30/05/2022. Chị T và anh L đều có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn. HĐXX xét thấy chị T và anh L đều có công việc, thu nhập ổn định và có đủ điều kiện nuôi con, song cháu Nguyễn Phương An C dưới 36 tháng tuổi, để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con trẻ nên cần thiết giao cháu An C cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T yêu cầu anh L có trách nhiệm góp cấp dưỡng nuôi con chung với mức 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Xét thấy chị T đang nuôi dưỡng con chung Nguyễn Phương An C tại quận H, thành phố Hà Nội; mức thu nhập bình quân của anh L là 8.000.000 đồng/01tháng. Do đó, HĐXX chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị T, buộc anh L cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Phương An Chi với mức 3.000.000 đồng/01 tháng kể từ tháng 8/2024 cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp với Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung nên Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc bên không nuôi con phải có nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.

[6] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T, anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[7] Về án phí: Chị T, anh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên xử :

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thu T ly hôn anh Nguyễn Duy L.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Phương An C, sinh ngày 30/5/2022 cho chị Nguyễn Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Nguyễn Duy L phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung với mức 3.000.000đ (ba triệu đồng)/01 tháng kể từ tháng 8/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Anh Nguyễn Duy L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở anh L thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung, công nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007541 ngày 06/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Xác nhận chị T đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Nguyễn Duy L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thu T, anh Nguyễn Duy L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND thị trấn Kép;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đỗ Thị Mai Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 49/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger