Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KRÔNG PẮC

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31-7-2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Tuyển, bà Nguyễn Thị Lan.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Lường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Pắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 207/2024/TLST - HNGĐ, ngày 29 tháng 5 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 11/7/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/7/2024 giữa:

  • - Nguyên đơn: Bà Công Huyền Tôn Nữ Hồng H, sinh năm 1992.
  • Trú tại: phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên H, có mặt.
  • - Bị đơn: Ông Huỳnh L, sinh năm 1992.
  • Trú tại: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Công Huyền Tôn Nữ Hồng H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng ông bà sau một thời gian quen biết, tìm hiểu và yêu thương nhau tự nguyện thì quyết định tiến đến hôn nhân, chung sống với nhau từ năm 2012 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên H vào ngày 07/10/2013.

Sau khi về chung sống với nhau theo bà H, vợ chồng ông bà thường xuyên phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chính là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Ông L không quan tâm đến gia đình. Vợ chồng ông bà đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay, mâu thuẫn giữa vợ chồng ông bà đã quá trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà H làm đơn khởi kiện xin ly hôn với ông L tại Toà án nhân dân huyện Krông Pắc và có nguyện vọng là xin được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng ông bà có 01 con chung là cháu Huỳnh Gia B, sinh ngày 19/6/2013. Nguyện vọng của bà H sau khi ly hôn là được nuôi dưỡng cháu B cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Hiện nay, bà H đang làm nghề buôn bán bình quân thu nhập hàng tháng từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, nên bà H đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu Huỳnh Gia B, sinh ngày 19/6/2013 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu ông Linh cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và công nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Huỳnh L không đến Tòa án làm việc, nên Tòa án không lấy được lời khai của bị đơn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án:

Về tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, tuyên xử:

  • Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Công Huyền Tôn Nữ Hồng H được ly hôn với ông Huỳnh L.
  • Về con chung: Giao cháu Huỳnh Gia B, sinh ngày 19/6/2013 cho bà Công Huyền Tôn Nữ Hồng H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi.
  • Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và công nợ chung: Bà Công Huyền Tôn Nữ Hồng H không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự có mặt tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện của bà Công Huyền Tôn Nữ Hồng H, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà H khởi kiện xin ly hôn với ông Huỳnh L có nơi cư trú tại thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tống đạt các văn bản tố tụng, nhưng ông L không tham gia tố tụng cũng như không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các phiên hoà giải là từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa lần thứ nhất ông L vắng mặt, nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa và tống đạt quyết định hoãn phiên tòa cho ông L. Tại phiên tòa hôm nay, ông L vắng mặt, do vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, để xét xử vụ án là đảm bảo đúng quy định pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà Công Huyền Tôn Nữ Hồng H và ông Huỳnh L là hợp pháp, được pháp luật công nhận thể hiện tại Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 143 cấp ngày 07 tháng 10 năm 2013 của Ủy ban nhân dân phường A, Tp H, tỉnh Thừa Thiên H. Quá trình tham gia tố tụng bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Ông Huỳnh L không có mặt tại Tòa án để trình bày quan điểm của mình.

Kết quả xác minh, chính quyền địa phương cung cấp: Ông Huỳnh L cư trú tại thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Bà H và ông L đã không còn chung sống với nhau từ năm 2015 đến nay, mâu thuẫn cụ thể như thế nào địa phương không nắm rõ. Hiện nay, bà H đã đưa con về quê ngoại sinh sống.

Tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình quy định:

“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”

Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa bà H và ông L đã đến mức trầm trọng, vợ chồng ông bà sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay mà không có biện pháp hàn gắn hạnh phúc gia đình. Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông L không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn khởi kiện và cho bà H được ly hôn với ông L.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà H và ông L có 01 con chung là cháu Huỳnh Gia B, sinh ngày 19/6/2013. Hiện tại, cháu B đang ở với bà H và nguyện vọng của bà H là được nuôi dưỡng cháu B cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Hiện nay, bà H đang làm nghề buôn bán bình quân thu nhập hàng tháng từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, ông L không có mặt để xác định nguyện vọng của ông về việc nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, nguyện vọng của bà H là chính đáng, đảm bảo cho sự phát triển của con chung, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Huỳnh Gia B, sinh ngày 19/6/2013 cho bà H nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Ông Huỳnh L được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, ông Huỳnh L không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H không yêu cầu nên Tòa án không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ chung: Bà H không yêu cầu nên Tòa án không đề cập giải quyết.

[3] Về án phí: Bà H phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Xét thấy, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ ý kiến của Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân:

Cho bà Công Huyền Tôn Nữ Hồng H được ly hôn với ông Huỳnh L.

Về con chung:

Giao cháu Huỳnh Gia B, sinh ngày 19/6/2013 cho bà Công Huyền Tôn Nữ Hồng H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi.

Ông Huỳnh L được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, ông Huỳnh L không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung:

Bà Công Huyền Tôn Nữ Hồng H không yêu cầu nên Tòa án không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ chung:

Bà Công Huyền Tôn Nữ Hồng H không yêu cầu nên Tòa án không đề cập giải quyết.

Về án phí:

Bà Công Huyền Tôn Nữ Hồng H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2023/0005784 ngày 21/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND huyện Krông Pắc;
  • - VKSND huyện Krông Pắc;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - THADS huyện Krông Pắc;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND P A, Tp H;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Thị Huyền Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 49/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công Huyền Tôn Nữ Hồng H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger