Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31/5/2024

V/v “Tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Lan Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chi

Bà Lê Thị Hồng Anh.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Út.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phùng Đức Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại Phòng xét xử số 3, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2024/TLST-HNGĐ ngày 31/01/2024 về việc “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16/02/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị M, sinh năm 1993.

Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.

Địa chỉ làm việc: 204, Quốc lộ A, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Songkran I - A, sinh năm 1980.

Địa chỉ: 6 M, K, W, P, Thái Lan.

(Chị M có đơn xét xử vắng mặt, anh Songkran I - Anong vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Trần Thị M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Songkran I - Anong quen biết nhau sau đó tự nguyện đăng ký kết hôn được Văn phòng đăng ký kết hôn huyện W, tỉnh Phitsanulok, Thái Lan cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 305/36577 ngày 18/6/2019 và đã ghi chú kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Hà Tĩnh theo Trích lục ghi chú kết hôn số 05/TLGCKH-BS ngày 18/7/2023. Từ khi đăng ký kết hôn, chị và anh Songkran I - Anong không ở cùng nhau mà chỉ liên lạc với nhau qua điện thoại. Trong khoảng thời gian từ khi kết hôn cho đến nay chị và anh Songkran I – Anong ngày càng có nhiều mâu thuẫn, mặc dù đã nhiều lần ngồi lại để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Songkran I - Anong.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Songkran I - Anong:

Anh Songkran I - Anong đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm thông báo thụ lý vụ án, thông báo công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục tố tụng của P1, nhưng anh Songkran I - A không có lời khai.

- Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử và các đương sự đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: hôn nhân giữa chị Trần Thị M và anh Songkran I-Anong có đăng ký kết hôn tại Văn phòng đăng ký huyện W, tỉnh Phitsanulok, Thái Lan, được ghi chú vào sổ kết hôn tại UBND huyện K ngày 18/7/2023. Chị M hiện đang sinh sống, làm việc tại ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai có xác nhận tạm trú tại UBND xã B, huyện T, xác nhận nơi làm việc tại địa phương nên được xem xét thụ lý giải quyết ly hôn tại Tòa án tỉnh Đồng Nai.

Theo nguyên đơn trình bày là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp nhưng giữa anh M, anh Songkran I-Anong đã có nhiều mâu thuẫn. Cả hai không còn liên lạc với nhau từ lâu, không hàn gắn được do có khoảng cách về địa lý giữa 02 nước Việt Nam - Thái Lan. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng giữa hai bên không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị M.

Do đó căn cứ các Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị M; Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết; Về án phí: Chị Trần Thị M phải chịu án phí theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Songkran I - Anong đang cư trú tại địa chỉ: 6 M, K, W, P, Thái Lan. Nguyên đơn chị Trần Thị M hiện đang cư trú và làm việc tại số B, Quốc lộ A, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, căn cứ Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị Trần Thị M có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; anh Songkran I - A đã được Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, Việt Nam tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa nhưng anh Songkran I - A vẫn vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228, 238, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử vắng mặt chị Trần Thị M, anh Songkran I - Anong.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Trần Thị M và anh Songkran I - Anong kết hôn trên cơ sở tự nguyện được Văn phòng đăng ký kết hôn huyện W, tỉnh Phitsanulok, Thái Lan cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 305/36577 ngày 18/6/2019 và đã ghi chú kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Hà Tĩnh theo Trích lục ghi chú kết hôn số 05/TLGCKH-BS ngày 18/7/2023 nên căn cứ Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình từ khi kết hôn cho đến nay vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nay chị M khởi kiện vụ án xin ly hôn nên Hội đồng xét xử áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị M nhận thấy: Theo chị Trần Thị M thì tuy chị và anh Songkran I - Anong đã đăng ký kết hôn theo quy định nhưng không sống chung mà chỉ liên lạc với nhau qua điện thoại, sau đó ngày càng phát sinh mâu thuẫn và hiện nay không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng. Còn đối với anh Songkran I - Anong, mặc dù Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Songkran I - Anong, nhưng anh không có ý kiến thể hiện quan điểm của mình như thế nào đối với yêu cầu xin ly hôn của chị M, điều này chứng tỏ anh Songkran I - A cũng không còn quan tâm đến hạnh phúc gia đình, không cố gắng khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng hàn gắn đoàn tụ. Do anh Songkran I - Anong vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thể tiến hành hoà giải đoàn tụ được.

Như vậy, thực tế giữa mối quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh Songkran I - Anong chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa, hiện nay cả hai mỗi người sống một nơi và tình cảm vợ chồng không tiếp tục được do khoảng cách về địa lý giữa 02 nước Việt Nam - Thái Lan. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh chị không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị M.

[3] Về con chung: Chị M khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Theo chị M khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết; tuy nhiên do không lấy được lời khai của anh Songkran I - Anong về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; sau này các bên có tranh chấp thì được quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

[5] Về án phí:

Chị M phải nộp 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng) án phí sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[6] Quan điểm và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 238; Điều 266, Điều 469, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 8, Điều 9; Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Trần Thị M.

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị M được ly hôn anh Songkran I - Anong.
  2. Về con chung: Không có nên không xem xét, giải quyết.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Trần Thị M phải chịu số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000108 ngày 08/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
  5. Chị Trần Thị M có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Anh Songkran I - Anong có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • -Cục THADS tỉnh Đồng Nai;
  • -UBND huyện Kỳ Anh;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Lan Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 49/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Trần Thị Minh khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Anong
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger